Ước mong của người làm tin học

(TuanVietNam) - Để biến Chính phủ là “của dân, do dân và vì dân”, hãy bắt đầu từ quan hệ Chính phủ coi nhân dân là khách hàng.

 (TuanVietNam) - Dự án công nghệ thông tin dễ thất bại do chính những người trong bộ máy cần được tự động hoá chống đối, vì họ không thích thay đổi, phải học thêm hay sợ bị mất việc. Đó chính là thách thức lớn nhất khi chuyển sang tự động hoá. Cán bộ Nhà nước quen tiếp dân kiểu “quan - dân” nên khó thay đổi thành quan hệ “dịch vụ - khách hàng”, trong khi mục đích của Chính phủ Điện tử nhằm biến quan hệ giữa Chính phủ và nhân dân thành quan hệ “Chính phủ = dịch vụ, nhân dân = khách hàng”. Để biến Chính phủ là “của dân, do dân và vì dân”, hãy bắt đầu từ quan hệ Chính phủ coi nhân dân là khách hàng.
 
 

Vài kỷ niệm với 112

Vài ba năm về trước, một lần tôi theo đoàn chuyên gia quốc tế đi thăm một số tỉnh và thành phố  ứng dụng công nghệ  thông tin (CNTT) của Việt Nam. Vào một buổi chiều hè oi ả tại một biệt thự gần Quảng trường Ba Đình, chúng tôi gặp Ban Chủ trì Đề án 112 và được đọc một báo cáo viết sẵn rất lạc quan, với những số liệu bao nhiêu máy chủ đã cài, bao nhiêu máy tính nối mạng.

Người tiếp chuyện thỉnh thoảng lại bấm điện thoại di động gọi đi đâu đó với những câu chuyện lạc đề. Khi được hỏi những ứng dụng nào được chạy trên đó và ai là người dùng, thì được những câu trả lời không rõ ràng. Một chuyên gia hỏi đây là G2G, G2B hay là G2C thì người tiếp chuyện không hiểu gì dù tôi đã cố giải thích bằng tiếng Việt.  

Đi thực tế, tôi thấy rất nhiều nơi có máy tính được nối mạng đàng hoàng. Theo cán bộ phụ trách báo cáo, đó là các máy tính của Đề án 112 hoặc do kinh phí của địa phương theo yêu cầu của Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT. Nhiều phòng được trang bị mấy chục máy tính nhưng bàn phím bụi bám như lâu ngày không ai đụng đến.

Chat nơi công sở - một hiện tượng phổ biến. Ảnh minh hoạ (Theo Nammedia)
Chat nơi công sở - một hiện tượng phổ biến. Ảnh minh hoạ (Theo Nammedia)
Vào một số cơ quan đang làm việc, đôi người đang dùng Excel hay Word, còn lại phần đông các cửa sổ đang mở để chơi trò chơi hoặc chat Yahoo Messenger với các nick mà tôi đoán không liên quan gì đến hoạt động của văn phòng. Việt Nam một ngày không có Yahoo Messenger như động đất, đủ biết máy tính dùng có tác dụng như thế nào.

70% dự án CNTT thất bại

Một trong những thống kê khắc nghiệt chỉ ra rằng 70% các dự án CNTT trên thế giới bị thất bại. Như vậy, Đề án 112 nằm trong số đông lại được “hân hạnh” dự báo thất bại từ khi phôi thai. Điều đó giúp người hạ bút ký duyệt Đề án 112 và những  người vào trại giam mới đây, có thể tự an ủi đôi chút là “ta có khác người đâu”.

Nếu thực sự, số tiền hàng nghìn tỷ chi cho các máy tính “nằm đắp chăn, phần mềm tậm tịt” và cách đào tạo tin học như đi dạy bổ túc những năm 60 của thế kỷ trước thì chua xót biết bao đối với một nước nghèo như nước ta.

Lý do các dự án CNTT thất bại là do trình độ và tầm nhìn vĩ mô của người thiết kế dự án chưa đủ để thấu suốt một dự án từ đầu đến cuối. Người thiết kế dự án hầu hết là các nhà hàn lâm khoa học chuyên về CNTT nhưng không hiểu biết thấu đáo về hoạt động giao dịch của các dịch vụ cần được tin học hóa. Phía khách hàng không muốn bỏ thời gian để tìm hiểu kỹ tin học sẽ làm được gì và có những hạn chế nào. Anh kỹ sư tin học chỉ nhìn thấy tiền khi anh ta bán được máy tính, máy in, phần mềm và các dịch vụ hậu mãi. Khách hàng thì hy vọng máy tính sẽ giúp họ làm hết mọi việc vì “máy tính điện tử cơ mà” nên phó mặc cho “anh tin học muốn làm gì thì làm”. Thế là mục đích không gặp nhau, dự án thất bại là đương nhiên.  

Mặt khác, dự án CNTT dễ thất bại do chính những người trong bộ máy cần được tự động hóa chống đối, vì họ không thích thay đổi, phải học thêm hay sợ bị mất việc. Đó chính là thách thức lớn nhất khi chuyển sang tự động hóa. Dự án Chính phủ Điện tử ( CPĐT) lại càng khó thực hiện hơn do bộ máy của những người có quyền lực không muốn thay đổi.

Hoạt động của Chính phủ đã có hàng nhiều thập kỷ. Cán bộ Nhà nước đã quen tiếp dân kiểu “quan - dân” nên khó thay đổi thành quan hệ “dịch vụ - khách hàng” trong khi  mục đích của CPĐT nhằm biến quan hệ giữa Chính phủ và nhân dân thành quan hệ “Chính phủ = dịch vụ - nhân dân = khách hàng”.

Để biến Chính phủ là “của dân, do dân và vì dân” hãy bắt đầu từ quan hệ Chính phủ coi nhân dân là khách hàng. Đó phải là cuộc cách mạng trong ý thức cán bộ Nhà nước kể từ cấp cao nhất đến cơ sở. Các nước ứng dụng CPĐT thành công như Hoa Kỳ, Đan Mạch, Singapore hay Hàn Quốc đều theo tiêu chí này.  

Ví dụ thành công về Chính phủ Điện tử: Hiện nay, bảy triệu nông dân nghèo vùng Karnataka, Ấn Độ, có thể nhận bản sao giấy “Quyền sử dụng đất” trên mạng trong vòng 10 phút ở 177 cửa hàng giao dịch Internet trong bang. Mỗi năm vài ba lần, họ cần bản sao điện tử “Quyền sử dụng đất” nhưng lại có giá trị pháp lý để dùng vay tiền Ngân hàng. Giá mỗi bản in trên mạng tương đương với khoảng 5.000 VN đồng. Nếu theo hệ thống cũ thì cần 10-15 ngày và phải trả tiền phí và đút lót khoảng từ 100.000 - 500.000 VN đồng.

Nếu đem hệ thống này áp dụng cho các văn phòng cấp quyền sử dụng đất của Việt Nam chắc sẽ bị hầu hết các cán bộ trong ngành phản đối vì còn “ăn cái đinh gì nữa?”. 

Chìa khóa cho Chính phủ Điện tử thành công  

Chúng ta xây dựng Đề án 112 với ước mong tốt đẹp nhằm mở đầu cho một CPĐT vì muốn coi đó là tiêu chí đánh giá tính minh bạch của bộ máy Nhà nước, tiết kiệm thời gian cho các giao dịch, khả năng thu hẹp khoảng cách giữa người dân và Chính phủ. Đó chính là một trong những động lực giúp cho sự tiến bộ kinh tế và xã hội.

Đi công chứng. Ảnh: VNExpress
Tại một phòng công chứng. Ảnh: VNExpress
Phải hiểu Chính phủ Điện tử là đề án liên quan đến hành chính công (public administration) chứ không phải là đề án Công nghệ Thông tin (Information and Communications Technologies - ICT). Để cho đề án tầm cỡ hàng nghìn tỷ như Đề án 112 thành công thì điểm xuất phát không phải là mua bao nhiêu máy tính, cài bao nhiêu máy chủ hay phần mềm thông minh và tiêu bao nhiêu tỷ mà điều cốt tử là việc cải cách hành chính công của các cơ quan Nhà nước phải được nghĩ đến đầu tiên.  

Bộ máy công quyền có thực sự coi người dân là khách hàng, là Thượng đế hay không? Khi họ thực sự coi trọng tính minh bạch trong Chính phủ, có nhu cầu cao trong việc cung cấp các dịch vụ đến người dân (G2C – Government to Citizen), gửi các chính sách tới các nhà đầu tư, sản xuất kịp thời (G2B – Government to Business), cần trao đổi thông tin nhanh chóng và chính xác giữa các bộ ngành để giúp cho bộ máy chính phủ hoạt động (G2G – Government to Government) thì lúc đó mới tính đến việc thiết kế CPĐT.

Quốc gia nào thực sự coi chống tham nhũng như là quốc sách thì CPĐT là sự cứu cánh cho họ, giúp giảm thiểu tham nhũng và thói hạch sách trong bộ máy công quyền.  

Như vậy, để có đề án CPĐT thành công thì chìa khóa nằm trong tay các nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước. Họ có thực sự muốn cải tổ hành chính và hệ thống pháp luật, kể cả luật về giao dịch điện tử theo hướng chung của thời đại CNTT không?

Chúng ta không thể dựa vào mấy tiến sỹ tin học hàn lâm mơ mộng hoặc các công ty CNTT chỉ chuyên lo lợi nhuận bán máy tính. Một khi nhà lãnh đạo cao nhất đã quyết tâm thay đổi, đưa ra được chiến lược và lộ trình cải cách hành chính quốc gia thì phần việc còn lại sẽ do khả năng tài chính, cơ sở hạ tầng công nghệ và các bộ ngành, chuyên gia CNTT quyết định sẽ thiết kế CPĐT như thế nào. 

Vài suy nghĩ cá nhân 

Để đợi sự cải tổ hành chính quốc gia thành công chắc còn lâu lắm. Chúng ta không nên ôm đồm thiết kế những dự án quá lớn vì thất bại sẽ ảnh hưởng khôn lường. Những cảnh báo về thất bại của Đề án 112 ngay từ lúc còn trứng nước như góp ý của Giáo sư Phan Đình Diệu, Tiến sỹ Quang A và sau này là  các góp ý về quản lý dự án của một số chuyên gia cần được người lãnh đạo cao nhất xem xét một cách cẩn trọng.

Đời sống. Ảnh: nguyenlt.free.fr
Con trâu đi trước, cái cày theo sau. Ảnh: nguyenlt.free.fr
Nên dừng lại việc xây dựng dự án quốc gia chung chung, chẳng liên quan gì đến chiến lược về cải cách hành chính của Chính phủ. Xin một khoản lớn tiền của Nhà nước đầu tư để rồi “có tiền nên có quyền” sẽ sinh ra chuyện “xin - cho” giữa các địa phương và Trung ương. Lãng phí và tham nhũng cũng từ đó mà ra. 

Nhiều thành công của CPĐT trên thế giới lại bắt đầu bằng các ứng dụng thí điểm nhỏ, các bước cải tiến dần dần từ nhiều phía trong một vùng địa lý hẹp để chứng minh tác dụng lớn của việc cải cách hành chính song hành với ứng dụng CNTT. Thành phố Đà Nẵng cỡ vừa, có lãnh đạo quyết tâm cải cách hành chính và đội ngũ tin học khá tin cậy lại đang được dự án ICT của Ngân hàng Thế giới tài trợ đáng được làm thí điểm một e-Government.

Trước đây chúng ta có Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT (năm 1995) với kinh phí hàng trăm tỷ, rồi đến Đề án 112 (năm 2001) hàng nghìn tỷ. Chúng ta có nên đi theo hướng này nữa hay không. Tôi chỉ mong có đề án mới, nhỏ hơn và ít ầm ĩ nhưng hiệu quả lớn so với đề án “vài nghìn tỷ” kiểu Đề án 112.

Thật  lòng, khi đọc những thông tin về Đề án 112, tôi đau xót muốn rơi nước mắt, thương những người nông dân nghèo nai lưng kéo cầy trên đồng, bán lúa đóng thuế và để rồi những đồng tiền mồ hôi nước mắt đó phung phí trong tham nhũng, hối lộ và những “dự án ngàn tỷ nhưng hiệu quả vài tỷ”.

Mấy hôm nay lại rộ lên chuyện tăng học phí hay dự định chi 250 tỷ cho cuộc thi hoa hậu thế giới tại Việt Nam, tôi lại nhói đau vì biết bao em nhỏ con nhà nghèo không được đến trường, bao nhiêu lớp học dột nát không đủ bàn ghế và bao trường học không có nhà vệ sinh.

Tôi sinh ra từ miền đất nghèo lầm than và may mắn được học hành nên rất hiểu giá trị đồng tiền của những miền đất ấy. Người làm tin học như tôi không muốn nước mắt người nghèo rơi thêm nữa vì những máy tính mua về cho cán bộ rỗi việc ngồi chat trên Yahoo Messenger hay đắp chiếu cho phủ bụi thời gian. 

  • Hiệu Minh

Washington DC, 9-2007.

Ý kiến đóng góp và bài vở gửi cho Thư Hà Nội xin liên hệ với địa chỉ: kyduyen@vasc.com.vn hoặc hpthao@vasc.com.vn

Ho ten: Nguyen Pham Tuyen
Dia chi: 145 Ong Ich Duong, Da Nang
Email: tuyennp@petrolimexdn.com.vn
Tieu de: Quá hay!
Noi dung: Tôi cũng là người phụ trách tin học nên thật sự tâm đắc với các phân tích của tác giả bài báo. Tất cả đều thực tế và chính xác 100%. Sợ nhất là trình độ và tư duy của các cấp lãnh đạo hiện nay, vô cùng duy ý chí trong triển khai các dự án tin học.

Ho ten: Trần Thành Trung
Dia chi: Văn phòng Ủy ban nhân dân Hậu Giang
Email: thanhlap@haugiang.gov.vn
Tieu de: Nhận thức và trách nhiệm
Noi dung: Tôi cũng sinh ra từ một miền quê nghèo. Vì chiến tranh nên tôi không được học nhiều. Tôi cũng không phải là người làm công nghệ thông tin. Nhưng tôi lại có nhiều kỷ niệm với công nghệ thông tin trong gần 11 năm qua. Hiện nay, tôi không thể hình dung được, tôi phải làm việc như thế nào, nếu không có máy tính và không có mạng thông tin. Công nghệ thông tin đã giúp cho tôi nhiều lắm. Vì thế tôi rất đau lòng khi phải chứng kiến hai lần thất bại của một mục tiêu là "Tin học hóa quản lý hành chính Nhà nước". Nguyên nhân thất bại, dù hai lần chưa được tổng kết, các nhà khoa học đã phân tích nhiều. Nhưng đừng để có chuyến xe thứ ba theo hai vết xe đi trước, theo tôi cần có nhận thức và trách nhiệm của những người lãnh đạo cả Trung ương và địa phương.

Ho ten: Nguyen Huu Khiem
Dia chi: 68A, Duong 39, P.Tan Quy, Q7, Tp. HCM
Email: khiemnh@vnn.vn
Tieu de: CNTT chỉ là công cụ
Noi dung: Tôi cũng là 1 người làm trong lĩnh vực CNTT nên rất đồng tình với tác giả. Xây dựng chính phủ điện tử, trước tiên chúng ta phải thực hiện cải cách hành chính để biến quan hệ giữa Chính phủ và nhân dân thành quan hệ “Chính phủ = dịch vụ - nhân dân = khách hàng”. Bởi vì CNTT chỉ là một công cụ giúp thực hiện các "qui trình" công việc của chúng ta một cách nhanh chóng và tiết kiệm công sức hơn, nó không phải là chiếc đũa thần có thể biến công việc của ta ngay lập tức từ xấu chuyển thành tốt. Xây dựng chính phủ điện tử trước hết phải đi từ nhận thức của cán bộ và một qui trình giải quyết công việc minh bạch. Cuối cùng để xây dựng được CPĐT ở Việt Nam cần quyết tâm lớn ở các cấp lãnh đạo thông qua các nghị quyết, nghị định và luật cụ thể. Chúng ta không thể xây dựng được CPĐT chỉ bằng tiền và các lời kêu gọi suông.

Ho ten: Đồng Xuân Tiến
Dia chi: Hải Thành - Kiến Thụy - Hải Phòng
Email: xuantien@active-semi.com
Noi dung: Tôi không hiểu tại sao ngay khi biết đề án 112 được triển khai tôi đã thấy có một cái gì đó rất giống với nội dung của ban chỉ đạo quốc gia về CNTT trước đó về mặt bản chất. Lại vẫn bắt cán bộ đi học như lớp một và thiết bị không biết sẽ dùng vào việc gì. Sẽ không có được kết quả như mong muốn bởi vì phạm vi triển khai quá lớn với một đội ngũ cán bộ từ xưa chỉ biết khái niệm máy tính là cái gì đó rất hiện đại và phải dành cho lớp trẻ. Vì vậy, trong tư tưởng chỉ là học lấy chứng chỉ để giữ miếng cơm, manh áo. Một điều chắc chắn rằng người làm ra đề án này cũng biết điều đó nhưng không hiểu sao một đề án với phạm vi áp dụng lớn và số tiền lên tới hàng nghìn tỉ đồng như vậy lại không được thử nghiệm ở một phạm vi hẹp để đánh giá kết quả trước khi áp dụng. Việc thận trọng trong các quyết định liên quan đến vĩ mô là điều hết sức cần thiết. Nhưng riêngCNTT có đặc thù riêng (ít nhất là với chúng ta), những cán bộ của các ngành, địa phương từ xưa họ làm việc đã không cần đến máy tính (nếu có thì cũng như bài báo trên là để làm việc riêng) hoặc có cần cũng ở mức sử dụng quá ít và không quan trọng vì họ vẫn làm việc tốt như khi chưa có máy tính. Cái thiếu ở đây là họ chưa biết CNTT cần thiết cho công việc đến mức nào? Theo quan điểm của tôi, muốn có một chính phủ điện tử, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm. Step-by-Step (từng bước từng bước một) là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong CNTT, phải làm tốt từng bước rối mới đến các bước tiếp theo. Chúng ta phải hình thành trước một bộ khung vững chắc rồi sau đó sẽ mở rộng phạm vi áp dụng (về cả con người lẫn máy móc kỹ thuật).

Email: huyenlocbinh@gmail.com
Noi dung: Thực tế tôi đã được cử đi dự lớp tập huấn đề án 112 của tỉnh (mở tại trường dạy nghề của tỉnh). Qua lớp học, tôi thấy các học viên đến lớp chỉ chăm chú vào việc làm thế nào để thuộc cách trả lời các câu hỏi trắc nghiệm (mỗi module có khoảng 45 câu hỏi, nếu thuộc được hoặc ghi ra giấy các câu hỏi và phần trả lời thì thế nào cũng được 8-9 điểm). Đến khi trường dạy nghề đã kín chỗ thì lớp học khoá sau được chuyển về TT giáo dục TX của huyện, tại đây thậm chí các bài thi đã được làm sẵn, các học viên đến chỉ để gọi là có học qua lớp mà thôi. Nội dung của các bài này thì như là cưỡi ngựa xem hoa, windows chả ra windows, office chả ra office, để rồi sau lớp học các học viên, vốn đã chưa biết nhiều về tin học, cũng chả biết thêm được là mấy. Nhưng chi phí cho chuyến đi học ngoài tỉnh thì tốn lắm, riêng tiền ngủ đã là 1.400.000 đồng rồi. Với số tiền đó mà tham gia một khoá học tại các cơ sở trong huyện thì tôi bảo đảm chất lượng sẽ cao hơn nhiều.

Ho ten: Tùng Lâm
Dia chi: Cầu Giấy, Hà Nội
Email: tungntdhtl@yahoo.com
Tieu de: Đơn vị hưởng lợi không mặn mà với sản phẩm đầu tư
Noi dung: Tôi cũng là một người làm CNTT, đọc bài viết của tác giả thấy rất tâm huyết và cũng phần nào rút ra bài học cho những dự án sau tương tự đề án 112. Việc đầu tư những sản phẩm phần mềm vốn đã vô hình, thêm vấn đề cải cách hành chính chưa tốt, nhưng vấn đề cốt yếu tôi muốn nói đó là đơn vị hưởng lợi không muốn chấp nhận sản phẩm. Lý do thứ nhất, tác giả đã phân tích, rất nhiều thủ tục hành chính rườm rà tạo kẽ hở để cán bộ công quyền "móc" hầu bao của dân. Chính phủ điện tử, giao tiếp qua mạng, công dân điện tử... đó là những ước mong tuyệt vời. Nhưng thử hỏi đội ngũ chống đối việc này là con số quá đông, liệu có thành công được không? Thứ hai là vấn đề các đơn vị hưởng lợi không được tham gia đặt yêu cầu, quyết định sản phẩm. Ta cũng biết để có một sản phẩm CNTT có ứng dụng tốt không dễ dàng như mua thiết bị, phải có quy trình chặt chẽ từ khâu khảo sát, liệt kê yêu cầu, phân tích thiết kế, tạo sản phẩm, vận hành thử nghiệm, bổ sung yêu cầu... trong đó các yêu cầu phát sinh liên tục khi một sản phẩm được ứng dụng. Trong đề án 112, việc tạo sản phẩm được làm từ trên và áp xuống các đơn vị hưởng lợi, những đơn vị này lại không trực tiếp tham gia đặt yêu cầu, bổ sung yêu cầu phát sinh cho phù hợp thực tế thì những phần mềm bỏ phí cũng là điều dễ hiểu.

 >> Cảm nghĩ của bạn về bài viết và vấn đề trên?

 

 

 

 

 

 

 

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu