Trần Vàng Sao: Người đàn ông 67 tuổi nói về mình

Sinh nhật năm 1984, Trần Vàng Sao viết “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình” đăng ở tạp chí Sông Hương, bài thơ có những câu gây “hiểu nhầm” một thời. Nay, nhà thơ xứ Huế 67 tuổi lại "rút ruột" với người viết báo về mình sau nhiều năm "quy ẩn"... sự kiện nóng


Nổi tiếng nhất đời thơ của Trần Vàng Sao cho đến thời điểm này vẫn là “Bài thơ của một người yêu nước mình”. Một người bạn vong niên của tôi từng đọc thuộc cho tôi nghe cả 155 câu thơ:

"... Tôi yêu đất nước này xót xa... Tôi yêu đất nước này cay đắng... Tôi yêu đất nước này áo rách... Tôi yêu đất nước này rau cháo... Tôi yêu đất nước này lầm than... Tôi yêu đất nước này chân thật...."


Những câu thơ mặn như nước mắt - Trần Vàng Sao viết khi bị sốt rét nặng, nằm ở Trạm xá chiến khu năm 1967, rồi được anh em in ronéo, đưa vào Huế hàng ngàn bản.

Cả một thế hệ thanh niên yêu thơ những năm chống Mỹ ở miền Bắc ai cũng xúc động khi đọc. Mọi chuyện bi phẫn, đau uất, ngậm ngùi ông đều đưa cả vào thơ, như là sẻ chia gan ruột. Và cũng vì thế mà ông mang hoạ.  

Qua một vài câu chuyện, tôi thấy cái tên “Vàng Sao” của ông sao chẳng huy hoàng chút nào.

Cuộc đời ông sao cũng khốn khổ, lận đận như cuộc đời mẹ nghèo đất nước.

Nhân sinh nhật năm 1984, Trần Vàng Sao viết “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình” đăng ở tạp chí Sông Hương, bài thơ có những câu gây “hiểu nhầm” một thời, có những hình ảnh về một người đàn ông:

Thường không một xu dính túi

Một hai ba giờ sáng thức dậy ngồi vác mặt ngó lên trời nghe chó sủa

...

muốn được say rượu

hoạ may thấy một đồng thành bốn đồng

...



Bài thơ viết khi ông phải nghỉ hưu non, lương ít, vợ không nghề nghiệp, phải nuôi hai con nhỏ. Nhưng có người cho rằng, bài thơ u ám, bất lực, tuyệt vọng. Có người lại suy diễn rằng, bài thơ nói xấu đất nước, nói xấu Cách mạng...

Ông kể với tôi, ông bị quy kết là lập trường không rõ ràng, có tư tưởng chống đối: “Công an đồn làm khó dễ khiếp quá. Bài đó với một bài nữa đăng ở tạp chí Sông Hương, không nhớ số nào, hai bài bị đập cả hai. Có báo Công An ở Bình Trị Thiên đập ghê quá. Mấy đứa sinh viên sắp đi Mỹ du học muốn vào tạm biệt tui, tui bảo thôi đi trót lọt, đừng có vào thăm tui mà tội nghiệp...”.  

Có một thời nặng nề như thế! “Một người yêu nước mình” đã viết những câu thơ:

Tôi yêu đất nước này xót xa

Mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không chồng

Thương tôi nên ở goá nuôi tôi

Những đứa nhà giàu hàng ngày chửi bới

Chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc,

Như cho một đứa hủi

Ngày kỵ cha họ hàng thân thích không ai tới

Thắp ba cây hương

Với mấy bông hải đường

...

Tôi yêu đất nước này cay đắng

Những năm dài thắp đuốc đi đêm

Quen thân rồi không ai còn nhớ tên

Dĩ vãng đè lên lưng thấm nặng

...

Một người như thế làm sao có thể u ám, bất lực, nói xấu Tổ quốc được?!

***


Trần Vàng Sao sống trong một ngôi nhà vườn cổ do ông nội để lại, nằm sâu trong thôn Vỹ Dạ. Thôn nổi tiếng trong thơ Hàn Mặc Tử ấy là nơi sinh trưởng của nhiều người nhà thơ, nhà văn: Nguyễn Khoa Điềm, Tuy Lý Vương,... Tôi đến chơi, thấy nhà thơ đang lúi húi cắm hoa loa kèn, thứ hoa mùa hè trắng muốt thanh khiết.

Ông đang cắm hoa cho Bồ Đề Đạt Ma. Nhà ông treo đầy tranh Bồ Đề Đạt Ma. Ông cười móm mém: “Khổng Tử, Lão Tử, Bồ Đề Đạt Ma... tranh tui sáng tác và chép lại đấy”.

Tôi là khách từ Hà Nội vào thăm, ông quý, ông rất vui, hỏi tôi ở phố nào của Hà Nội. Ông bảo, năm 70, ông có ra Bắc chữa bệnh, và cũng ở Cầu Giấy. Những năm chiến tranh, có nhiều kỉ niệm vui. Buổi sáng ăn tô mì hai hào, buổi trưa ăn cơm ở Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật ở Trần Hưng Đạo, nhà ăn hay có thông báo: “Hôm nay nước dùng có mì chính”, buổi chiều lơ vơ cà phê Lý Thường Kiệt, khi ấy quán hay treo biển: “Cà phê đá không đá”.

Ông bảo: “Chiều chiều như rứa, ngồi nói chuyện vui lắm. Bạn tâm giao giờ đi xa đã nhiều...”. Chuyện mới đôi khi ông không nhớ, nhưng chuyện cũ ông nhớ tỉ mỉ, chính xác lắm.

Tôi hỏi ông, tại sao ông lại lấy bút danh là Trần Vàng Sao (tên thật nhà thơ là Nguyễn Đính). Ông kể, Chế Lan Viên cũng từng gọi điện hỏi ông câu này. Chỉ là thấy vui vui thì đặt là Vàng Sao thôi. Cái tên khí khái, hợp với tạng người thẳng thắn của ông.

Tôi nhìn trên giường ông, thấy một chồng sổ sách và bản thảo thơ gạch xoá. Giấy ố vàng. Ông dùng loại bút chấm mực tím để viết. Ông hút loại thuốc lá rẻ tiền nhất, thuốc lá Đà Lạt, chỉ 1.300đ một bao.

Kể từ sau án thơ “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình”, ông chẳng in thơ ở đâu nữa, nhưng vẫn viết hàng trăm bài gan ruột.

Năm nào ông cũng làm thơ mừng tuổi ông, mừng tuổi mẹ, mừng tuổi con... Có lẽ là tôi đã rất may mắn khi được ông mang bản thảo thơ ra cho xem:

Tôi chúc mừng tôi bốn mươi tám tuổi

không còn lớn thêm được nữa

Tôi chúc mừng tôi bốn mươi tám tuổi

giữa trưa đứng bóng không có việc chi làm

ra đứng ngoài cửa ngõ đợi nghe một tiếng chim hót

Tôi chúc mừng tôi bốn mươi tám tuổi ăn cơm không còn mắc nghẹn

Tôi chúc mừng tôi bốn mươi tám tuổi không nuôi nổi mình hai bữa


....

Tôi vẽ tôi năm mươi tám tuổi mặt đen râu tóc dài giơ xương buổi chiều bắc cái ghế đẩu ngồi một mình trong nhà ngó ra ngoài đường chờ người chai bao đi qua rao một tiếng

Tôi vẽ tôi ở Vỹ Dạ mấy chục năm không ra khỏi nhà một bước


...

Tôi không thấy thơ ông nhắc đến vết thương ở đầu gối, trái gió trở trời vẫn nhức nhối. Tôi hỏi ông tại sao không làm thẻ thương binh? Ông gạt đi, làm thẻ thương binh làm chi, miễn là còn sống, còn nói cười là được rồi. Ba ông là Việt Minh bị giặc bắn ngay tại làng, cũng không khai báo để được liệt sĩ.


Tôi có nghe kể lại, lương của ông sau đợt tăng năm 2004 là 500.000 đồng, bây giờ thì cũng đã được gần một triệu. Trước kia, nhiều lần vợ chồng ông phải đi bán thuốc lá cho người xem bóng đá ngoài sân Tự Do.

Ông cũng có lần đi đào vàng ở Quảng Nam, mấy tháng trời lại tay trắng đi về. Có dạo, vợ ông phải đi bán bánh canh cá lóc ngoài vỉa hè, ông thì chữa xe đạp kiếm sống.   

"Tôi chúc mừng tôi bốn mươi tám tuổi

không còn lớn thêm được nữa..."
Ông khoe với tôi, ông có hai đứa cháu ngoại, một đứa tên Nấm, một đứa tên Rơm. Ông khoe: “Ngày xưa tui làm ở Uỷ ban, nhưng làm liên lạc. Giờ con trai tui làm Địa chính, to hơn tui. Con hơn cha là nhà có phước đó”.

Tôi ngồi với ông trong vườn nhà. Một vài chai bia Huế, vài món nhẹ. Ông khoe tôi cái mở bia là một thanh gỗ cũ đóng đinh ở đầu, cái đinh đã mòn. Ông cười bảo: “Để tôi cầm cái ni tôi vô khách sạn năm sao tôi mở bia cho chúng nó khiếp”.

Khung cảnh nên thơ mà hương vị có chút gì đó chua cay. Rồi buổi chiều cũng qua mau.

***

Qua một vài câu chuyện, tôi thấy cái tên “Vàng Sao” của ông sao chẳng huy hoàng chút nào. Cuộc đời ông sao cũng khốn khổ, lận đận như cuộc đời mẹ nghèo đất nước.

Ông bảo tôi đừng viết về ông, tội ông lắm. Nói rằng viết, nhưng vài dòng về ông cũng giống như về biển Lăng Cô hay bảo tàng Điềm Phùng Thị một ngày trong mát. Và tôi biết, tôi cũng có những điều không thể chia sẻ được với con người này.

  • Đinh Phương Linh

(Ảnh: Hoàng Nam)
 

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu