Thềm lục địa mở rộng và Hoàng Sa, Trường Sa

Những đề xuất và góc nhìn riêng của nhóm tác giả Quỹ nghiên cứu Biển Đông liên quan tới báo cáo đăng ký thềm lục địa mở rộng trên biểnĐôngcủa Việt Nam tuần tới. sự kiện nóng

LTS: Báo Tuổi Trẻ ngày 29/4/2009 cho biết, Việt Nam sẽ nộp báo cáo đăng ký thềm lục địa mở rộng trước thời hạn 13/5/2009 theo quy định của LHQ.

Bài viết dưới đây thể hiện góc nhìn riêng của nhóm tác giả Quỹ nghiên cứu Biển Đông, như một đề xuất độc lập của các nhà nghiên cứu.


Theo Công ước LHQ về Luật Biển 1982
[1] (UNCLOS) mỗi nước ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa là 200 hải lý tính từ đường cơ sở của nước đó. Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ven biển có đặc quyền khai thác kinh tế đối với biển và đáy biển.

UNCLOS cũng quy định rằng nếu thềm lục địa của nước ven biển kéo dài ra xa hơn 200 hải lý thì nước đó có đặc quyền khai thác tài nguyên dưới đáy biển trong một vùng bên ngoài 200 hải lý, gọi là thềm lục địa mở rộng.

Nước ven biển phải báo cáo về phạm vi của thềm lục địa mở rộng của mình với Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (Commission on the Limits of the Continental Shelf - CLCS) trong vòng 10 năm kể từ khi UNCLOS bắt đầu có hiệu lực với nước đó hay từ khi Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa ban hành hướng dẫn khoa học kỹ thuật về ranh giới thềm lục địa, ngày 13/05/1999. Hạn định cho Việt Nam là ngày 13/05/2009[2].

Có 2 yếu tố chính trong việc chuẩn bị báo cáo:

· Khoa học: Nước ven biển phải đo đạc đáy biển để xác định yêu sách có lợi nhất cho mình và báo cáo cơ sở khoa học cho yêu sách đó với CLCS. Đây là một công trình khoa học quy mô đối với bất cứ nước nào và đòi hỏi rất nhiều đối với một nước đang phát triển như Việt Nam.

· Ngoại giao: Nước ven biển phải quyết định xử lý thế nào khi tồn tại tranh chấp trong vùng thềm lục địa mở rộng của mình. CLCS chỉ xét báo cáo cho vùng bị tranh chấp nếu tất cả các nước trong tranh chấp đồng thuận với việc đó.

Hình SEQ Hình \* ARABIC 1: Địa hình đáy biển Biển Đông[3].
(Click vào hình để phóng to)

Theo Vụ trưởng Vụ Biển Nguyễn Quang Vinh, Việt Nam sẽ đăng ký trước thời hạn 1 tuần. Trong khi chờ đợi CLCS công bố tóm tắt của báo cáo, chúng ta có thể nhận xét dựa trên những điểm Vụ trưởng Vụ Biển Nguyễn Quang Vinh đề cập tới.

Trên nguyên tắc, khu vực giữa Biển Đông trong bản đồ 1, với các ký hiệu từ 4 tới 11, có thể là đối tượng của yêu sách của các nước về thềm lục địa mở rộng. Trên nguyên tắc, bên ngoài khu vực này có thể thuộc về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các nước.
 

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 1: Yêu sách thềm lục địa mở rộng của Việt Nam có thể bao gồm các khu vực 4, 5, 6, 8, hay có thể bao gồm cả 9.

Vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan hẹp dưới 400 hải lý. Trong 2 vịnh này, Việt Nam và các nước láng giềng không đòi hỏi thềm lục địa xa bờ hơn 200 hải lý cho nên không cần đăng ký thềm lục địa mở rộng.

Trong khu vực 2, giữa mũi Cà Mau và Malaysia, Việt Nam và Malaysia không đòi hỏi thềm lục địa xa bờ hơn 200 hải lý cho nên cũng không cần đăng ký.

Trong khu vực 3, ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia nằm cách quần đảo Côn Sơn dưới 200 hải lý cho nên Việt Nam không cần đăng ký cho vùng Nam Côn Sơn.

Báo cáo của Indonesia nộp cho CLCS ngày 16/6/2008[4] chỉ bao gồm khu vực phía Tây Bắc Sumatra, trong Ấn Độ Dương, và nói là sẽ báo cáo về các khu vực khác sau. Theo các chuyên gia Indonesia, nước này có tiềm năng đòi hỏi thềm lục địa mở rộng phía Tây Sumantra, phía bắc Papua và phía Nam đảo Sumba[5]. Cả 3 khu vực này đều không nằm trong Biển Đông. Dựa trên cơ sở đó, báo cáo của Indonesia sẽ không liên quan tới Việt Nam.

Địa lý, địa chất đáy biển có thể không cho phép các nước đòi hỏi vùng 7, 11.

Như vậy, yêu sách của Việt Nam về thềm lục địa có thể bao gồm các khu vực 4, 5, 6, 8, hay có thể có cả 9.

Bản đồ 2: Vùng xám là yêu sách thềm lục địa mở rộng của Indonesia phía Tây Bắc Sumatra trong báo cáo ngày 16/6/2008[6].

1. Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

Tồn tại câu hỏi là Việt Nam có thể dùng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để đăng ký ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng hay không.

Bản đồ 3: Phạm vi 200 HL từ đảo Phú Lâm, Hoàng Sa (thuộc quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc, Trường Sa (thuộc quần đảo Trường Sa).

Bản đồ 3 vẽ phạm vi 200 hải lý từ những đảo sau:

· Đảo Phú Lâm: đảo lớn nhất trong nhóm An Vĩnh, thuộc quần đảo Hoàng Sa.

· Đảo Hoàng Sa: đảo lớn nhất trong nhóm Nguyệt Thiềm, thuộc quần đảo Hoàng Sa.

· Đảo Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc, Trường Sa: 4 đảo lớn nhất thuộc quần đảo Trường Sa.

Nếu Việt Nam muốn dùng Hoàng Sa, Trường Sa để đăng ký ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng thì phải đòi hỏi rằng các hình tròn 200 hải lý trong bản đồ 3 là các vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý thuộc Hoàng Sa, Trường Sa, và đòi hỏi thềm lục địa mở rộng bên ngoài các hình tròn này.

Giả sử không tồn tại tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa đi nữa, nếu Việt Nam dùng Hoàng Sa, Trường Sa để đòi hỏi thềm lục địa mở rộng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các nước khác thì CLCS sẽ khó có thể chấp nhận.

Vì vậy, nếu Việt Nam dùng quần đảo Hoàng Sa để đăng ký ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng thì chỉ có thể đòi hỏi khu vực 7, 11; nếu dùng quần đảo Trường Sa thì chỉ có thể đòi hỏi khu vực 11. Nhưng có thể là địa lý, địa chất đáy biển có nghĩa 2 khu vực này không thuộc thềm lục địa mở rộng.

Ngoài ra, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa hiện đang nằm trong tình trạng tranh chấp cho nên nếu Việt Nam dùng các đảo này để đòi hỏi thềm lục địa mở rộng thì CLCS sẽ không xét.

Mặt khác của vấn đề, nếu Việt Nam dùng các đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong yêu sách thềm lục địa mở rộng thì sau này Trung Quốc có thể dùng việc đó như một cớ cho việc nước này dùng các đảo này để đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế trong các vùng biển của Việt Nam.

Như vậy, nếu Việt Nam dùng lãnh thổ khác với Hoàng Sa, Trường Sa trong việc đòi hỏi các khu vực 4, 5, 6, 8, và thì đó là điều hợp lý. Ngoài ra, Việt Nam cũng có thể xem khu vực 9 là khu vực bảo lưu, sẽ có báo cáo sau nếu thích hợp.

Việc không dùng các đảo Hoàng Sa, Trường Sa để đăng ký ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng không ảnh hưởng tới chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam đối với các đảo này. Việc này cũng không có nghĩa sau này Việt Nam không thể dùng Hoàng Sa, Trường Sa trong việc phân định ranh giới biển hay thềm lục địa với các nước láng giềng.

2. Đường cơ sở 1982 của Việt Nam

Trong việc khuyến nghị, nếu CLCS cần xác định rằng thềm lục địa của nước ven biển thật sự ra cách đường cơ sở hơn 200 hải lý, hay nếu nước ven biển muốn dùng đường giới hạn 350 hải lý trong việc giới hạn thềm lục địa mở rộng, thì CLCS có thể yêu cầu nước ven biển xác định đường cơ sở của mình[7] để CLCS dùng để tính các phạm vi 200 hảI lý hay 350 hảI lý.

Như đã trình bày trên VNN[8], Mặc dù đường cơ sở 1982 của Việt Nam có một số điểm không phù hợp với UNCLOS, Việt Nam có thể đăng ký thềm lục địa mở rộng mà không cần chỉnh sửa lại đường cơ sở 1982.

3. Khu vực 4, 5: Tư Chính, Vũng Mây, phía Tây Nam Trường Sa

Việt Nam có yêu sách thềm lục địa mở rộng trong 2 khu vực 4, 5, thí dụ như đối với phần phía Nam của vùng Tư Chính, Vũng Mây.

Trong khu vực 4, 5, yêu sách của Việt Nam có thể nằm chồng lấn lên yêu sách mà Malaysia và Brunei đã tuyên bố, thí dụ như đường màu cam là yêu sách thềm lục địa mà Malaysia đã tuyên bố.

Khả năng là Việt Nam, Malaysia và Brunei sẽ không giải quyết được tranh chấp trước 13/05./2009. Vì vậy, việc Việt Nam, Malaysia và Brunei đăng ký chung khu vực 4, 5 là điều hợp lý.

Tồn tại yếu tố là Trung Quốc tranh chấp khu vực 4, 5. Thứ nhất, 2 khu vực này nằm trong ranh giới lưỡi bò của Trung Quốc. Thứ nhì, khu vực 4, 5 bị Trung Quốc cho là thuộc quần đảo Trường Sa, hiện đang trong tình trạng tranh chấp. Trên thực tế, Trung Quốc đã từng ký hợp đồng khảo sát trong vùng Tư Chính với công ty Crestone của Mỹ và đã từng áp lực BP và Exxon Mobil không được hợp tác với Việt Nam trong vùng Nam Côn Sơn – Tư Chính. Việt Nam có thể lựa chọn giữa 3 giải pháp sau:

1. Không đăng ký yêu sách trong khu vực 4, 5, xem đó là khu vực bảo lưu, nêu lý do đó là vùng tranh chấp.

2. Đăng ký chung với Trung Quốc, Malaysia và Brunei.

3. Đăng chung với Malaysia và Brunei, coi như không có sự tranh chấp của Trung Quốc, để cho CLCS quyết định về yếu tố tranh chấp với Trung Quốc.

Vì yêu sách của Trung Quốc đối với vùng Tư Chính, Vũng Mây quá vô lý[9], Việt Nam không nên có động thái gì có thể bị cho là công nhận dù là một phần yêu sách đó. Vì vậy, giải pháp 3 là tối ưu cho Việt Nam.

4. Khu vực 6: Phía Tây Bắc Trường Sa

Việt Nam cần đòi hỏi thềm lục địa mở rộng trong khu vực 6. Hiện nay chưa rõ Việt Nam sẽ bảo lưu hay báo cáo về khu vực 6.

Trong báo cáo của Philippines nộp cho CLCS ngày 8/4/2009, nước này không đăng ký thềm lục địa mở rộng trong Biển Đông và bảo lưu quyền báo cáo sau. Ngoài ra, Trung Quốc có thể tranh chấp khu vực 6. Cũng như với khu vực 4, 5, việc Trung Quốc đòi hỏi khu vực 6 là quá vô lý và tham vọng.

Vì vậy, giải pháp tối ưu cho Việt Nam trong khu vực 6 là báo cáo về khu vực này, nhưng không báo cáo chung với các nước khác.

Trong khu vực 6, điều hợp lý là Việt Nam chỉ đòi hỏi thềm lục địa bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ đường cơ sở của Philippines.

Nếu Philippines không dùng các đảo Trường Sa mà họ tranh chấp để đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế thì đó cũng là điều hợp lý và là chiều hướng tốt cho việc giải quyết tranh chấp Biển Đông.

5. Nhận xét về báo cáo và động thái của Philippines

Theo báo cáo của Philippines nộp cho CLCS ngày 8/4/2009,

The Philippines identified regions to its East and West over which it might be entitled to extended continental shelves[10].

Trong báo cáo này, Philippines chỉ đăng ký khu vực Benham Rise phía Đông Bắc nước này, xem tất cả các khu vực khác, bao gồm các khu vực trong Biển Đông, là khu vực bảo lưu, Philippines sẽ đăng ký trong tương lai. Hiện nay chưa rõ Philippines sẽ yêu sách vùng nào khác, dựa trên cơ sở nào, đặc biệt là chưa rõ nước này có sẽ đòi hỏi thềm lục địa mở rộng trong khu vực 6 hay không.

Philippines nêu ra lý do cho việc chỉ báo cáo về khu vực Benham Rise là muốn tránh gây thêm tranh chấp mới, tránh làm tệ thêm các tranh chấp hiện hữu, và muốn xây dựng hiềm tin và hợp tác giữa các nước trong tranh chấp[11]. Có thể là lý do này là một sự né tránh khéo léo vì nếu Philippines báo cáo chung với các nước trong tranh chấp thì cũng có thể thực hiện được những điều này.

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 5: Đường màu cam là yêu sách thềm lục địa của Philippines tại khu vực Benham Rise trong báo cáo ngày 8/4/2009[12].

Trong báo cáo về khu vực Benham Rise, Philippines chỉ dùng đường Hedberg để yêu sách thềm lục địa và nói rằng cho tới nay chưa có số liệu cho đường Gardiner. Nếu đường Gardiner nằm xa bờ hơn đường Hedberg thì việc dùng đường Hedberg là một sơ xuất và thiệt hại cho Philippines.

6. Khu vực 8, 9: Phía Đông Nam Hoàng Sa

Việt Nam cần đòi hỏi ít nhất là khu vực 8 và có thể lựa chọn giữa 5 giải pháp:

1. Xem khu vực 8, 9 là khu vực bảo lưu.

2. Đăng ký khu vực 8 (phía bên Việt Nam của đường trung tuyến không tính quần đảo Hoàng Sa).

3. Đăng ký khu vực 8, xem khu vực 9 là khu vực bảo lưu.

4. Đăng ký khu vực 8 và khu vực 9.

5. Đăng ký chung khu vực 8 và 9 với Trung Quốc và phân định chủ quyền sau.

Giải pháp 3 là tối ưu. Tuy nhiên, nếu điều kiện không cho phép, giả sử như như Trung Quốc đã cản trở Việt Nam thu tập số liệu trong khu vực 8, 9, thì Việt Nam cần bảo lưu những vùng mà mình chưa có điều kiện để báo cáo.

7. Nhận xét về động thái của Trung Quốc

Có nhiều khả năng cho thấy, Trung Quốc sẽ phản đối tất cả các nước trong khu vực.

Đối chiếu giữa một bên là Trung Quốc sẽ phản đối tất cả các nước trong khu vực, bên kia là các nước Đông Nam Á, bao gồm cả Việt Nam, có thể phối hợp với nhau, nói lên phần nào sự khác biệt giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á trong tranh chấp Biển Đông.

Trên thực tế, không có nước Đông Nam Á nào yêu sách 75% Biển Đông như Trung Quốc, và không có nước Đông Nam Á nào có sức mạnh vượt trội các nước khác trong tranh chấp như Trung Quốc.

Thái độ của Trung Quốc nêu lên 3 vấn đề.

7.1 Trung Quốc sẽ viện lý lẽ gì để phản đối?

Khả năng thứ nhất là Trung Quốc phản đối với lý do Biển Đông là biển lịch sử của họ. Phản đối này sẽ vô lý vì 2 lý do:

1. Thứ nhất, hoàn toàn không tồn tại chứng cớ là Trung Quốc đã xác lập và thực thi chủ quyền của họ đối với Biển Đông.

2. Thứ nhì, Trung Quốc đã phê phuẩn UNCLOS, mà trong UNCLOS không tồn tại khái niệm “biển lịch sử”. Mặc dù trong UNLOS tồn tại khái niệm “vịnh lịch sử”, không thể áp dụng khái niệm này cho Biển Đông để yêu sách 75% biển này.

Khả năng thứ nhì là Trung Quốc phản đối với lý do:

· Các vùng 4, 5, 6, 7 thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Trường Sa.

· Các vùng 8, 9, 10 thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Hoàng Sa.

· Vùng 11 thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của bãi cạn Scarborough.

· Hoàng Sa, Trường Sa và bãi cạn Scarborough thuộc về Trung Quốc.

Phản đối đó sẽ vô lý vì, chưa kể Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về Trung Quốc, trong trường hợp chồng lấn, các đảo nhỏ hay đá như các đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bãi cạn Scarborough thường không được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế.

Lưu ý là trong tranh chấp với Nhật tại Biển Đông Trung Hoa (East China Sea), Trung Quốc đòi hỏi rằng khi thềm lục địa từ bờ biển đất liền của Trung Quốc nằm chồng lấn lên vùng đặc quyền kinh tế từ các đảo Lưu Cầu (Ryuku) của Nhật thì thềm lục địa từ bờ biển đất liền của Trung Quốc phải được ưu tiên[13].

Như vậy, lý do thứ nhì của Trung Quốc để phản đối thềm lục địa mở rộng của Việt Nam không chỉ vô lý mà còn đi ngược lại với lý lẽ mà chính Trung Quốc dùng trong tranh chấp với Nhật.

Để dự phòng các phản đối khác nhau của Trung Quốc, báo cáo của Việt Nam nên cho là các vùng biển 12 hải lý chung quanh các đảo nổi thuộc quần đảo Trường Sa không phải là thềm lục địa mở rộng mà là lãnh hải thuộc các đảo này. Lãnh hải 12 hải lý của các đảo Hoàng Sa không chồng lấn lên thềm lục địa mở rộng cho nên không cần xử lý Hoàng Sa như Trường Sa.

7.2 Ý nghĩa của phản đối của Trung Quốc

Nếu Trung Quốc phản đối thì có khả năng là CLCS sẽ không xét báo cáo của Việt Nam, Malaysia và Brunei. Trong trường hợp đó, các nước này sẽ không có thềm lục địa được CLCS công nhận – đó là một thiệt thòi, là hệ quả của đòi hỏi quá tham vọng và vô lý của Trung Quốc.

Nếu Trung Quốc phản đối, bất kể phản đối đó có thành công hay không, Việt Nam, Malaysia và Brunei phải có một chiến dịch ngoại giao và thông tin để tranh thủ dư luận về việc đăng ký thềm lục địa nói riêng và tranh chấp Biển Đông nói chung.

7.3 Trung Quốc sẽ báo cáo về thềm lục địa mở rộng thế nào?

Có những khả năng sau.

· Trung Quốc có thể cho rằng tất cả các khu vực có thể là thềm lục địa mở rộng trong Biển Đông đều là khu vực bảo lưu, và tuyên bố là họ sẽ báo cáo sau. Chủ trương này sẽ đi ngược với tất cả mọi thiện chí và cản trở tất cả mọi sự tiến bộ trong vấn đề tranh chấp Biển Đông.

Trong trường hợp này, Việt Nam nên tranh thủ dư luận bằng cách nêu lên tính phản thiện chí, phản tiến bộ của chủ trường này.

· Trung Quốc có thể cho rằng (xem bản đồ 3):

o Các khu vực 8, 9, 10 thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Hoàng Sa.

o Khu vực 11 thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của bãi cạn Scarborough.

o Các khu vực 4, 5, 6, 7 thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Trường Sa.

Trong trường hợp này, Trung Quốc sẽ cho rằng trong Biển Đông chỉ tồn tại các vùng đặc quyền kinh tế, không tồn tại các vùng thềm lục địa mở rộng, và nước này sẽ phản đối tất cả các báo cáo của các nước khác về thềm lục địa mở rộng.

Với chủ trương này, Trung Quốc không những tranh chấp tất cả các vùng thềm lục địa mở rộng của Việt Nam mà còn yêu sách xâm lấn sâu vào trong các vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ đất liền Việt Nam, các đảo ven bờ và 2 quần đảo Côn Sơn, Phú Quý.

Vì vậy, Việt Nam nên ủng hộ quan điểm là các đảo trong quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không được hay chỉ được rất ít hiệu lực trong việc tính vùng đặc quyền kinh tế.

· Trung Quốc có thể dùng đảo Hải Nam và quần đảo Pratas (mà Trung Quốc gọi là Đông Sa) để yêu sách thềm lục địa mở rộng trong các khu vực 8, 9, 10. Yêu sách này sẽ chồng lấn lên yêu sách của Việt Nam đối với khu vực 8. Nếu Việt Nam yêu sách vùng 9 thì yêu sách của Trung Quốc cũng sẽ chồng lấn lên vùng này. Song song với yêu sách này, Trung Quốc có thể phản đối yêu sách của các nước khác.

Trung Quốc cũng có thể chỉ báo cáo về khu vực 9, 10 và xem các khu vực khác là khu vực bảo lưu. Nếu các nước khác không tranh chấp hay bảo lưu các khu vực 9, 10 thì CLCS có thể chấp nhận yêu sách của Trung Quốc, trong khi CLCS sẽ không xét báo cáo của các nước khác.

Vì vậy, Việt Nam nên bảo lưu vùng 9 để sau này có thể đối trọng yêu sách của Trung Quốc trong vùng 8.

8. Kết luận

Trong khu vực 4, 5, phối hợp với Malaysia và Brunei trong việc báo cáo là giải pháp có lợi cho Việt Nam.

Trong khu vực 6, báo cáo là giải pháp có lợi cho Việt Nam.

Việt Nam cần phải đòi hỏi khu vực 8 và nên báo cáo về khu vực này. Nếu Việt Nam có tiềm năng để đòi hỏi khu vực 9 thì nên bảo lưu hay báo cáo về khu vực này. Hiện chưa rõ Việt Nam có đòi hỏi các khu vực này hay không, và chưa rõ Việt Nam sẽ báo cáo hay bảo lưu các khu vực này.

Nói chung, trong báo cáo của Việt Nam và báo cáo chung với các nước khác, Việt Nam nên ghi chú là Việt Nam bảo lưu quyền đăng ký những vùng mà mình chưa đăng ký.

Trung Quốc sẽ phản đối tất cả các nước trong khu vực. Nếu đúng vậy thì phản đối của Trung Quốc sẽ cản trở việc đăng ký thềm lục địa của tất cả các nước trong khu vực - có thể dẫn tới hệ quả là CLCS sẽ không xét báo cáo của các nước này.

Nếu Trung Quốc phản đối tất cả các nước này thì Trung Quốc lộ rõ mình là một trường hợp đặc biệt trong tranh chấp Biển Đông. Hiển nhiên, sự đặc biệt đó là Trung Quốc là nước duy nhất yêu sách 75% Biển Đông. Việt Nam và các nước liên quan cần khai thác sự khác biệt này đó trong các chiến dịch ngoại giao, thông tin.

  • Dương Danh Huy, Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

[1] http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/vn/tulieusuyngam/6032/index.aspx

[2] http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/vn/tulieusuyngam/6351/index.aspx

[3] Tóm tắt báo cáo của Philippines,
Hình 1: http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/
phl22_09/phl_esummary.pdf

[4] Tóm tắt báo cáo của Indonesia: http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/
submissions_files/idn08/Executive20Summary.pdf

[5] “The delineation of Indonesia’s outer limits of its extended continental shelf and preparation for its submission: status and problem”, Arsana, ĐH Gadjah Mada, 2007,

http://www.un.org/Depts/los/nippon/unnff_programme_home/
fellows_pages/fellows_papers/arsana_0708_indonesia_PPT.pdf

[6] Tóm tắt báo cáo của Indonesia, hình 2

[7] Guidelines, 3.3.2

[8] http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/vn/tulieusuyngam/6351/index.aspx  

[9] http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/vn/tulieusuyngam//5522/index.aspx

[10] Tóm tắt báo cáo của Philippines, phần 3.0

[11] Tóm tắt báo cáo của Philippines, phần 3.3

[12] Tóm tắt báo cáo của Philippines, hình 4

[13] Mặc dù các đảo Lưu Cầu lớn hơn các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa rất nhiều, nhóm Lưu Cầu có hàng triệu dân cư, và hoàn toàn thuộc về Nhật, trong khi Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về Trung Quốc – tức là việc Nhật đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo Lưu Cầu hợp lý hơn việc Trung Quốc dùng Hoàng Sa, Trường Sa để đòi vùng đặc quyền kinh tế.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu