Suy nghĩ về chiến thắng trong Tết Mậu Thân 1968

Đã 40 năm trôi qua kể từ Tết Mậu Thân năm 1968 lịch sử, những ký ức về mùa xuân năm đó vẫn in đậm trong tâm trí nhiều người dân Việt Nam. sự kiện nóng

Tuần Việt Nam xin trân trọng giới thiệu bài tham luận của Đại tướng LÊ ĐỨC ANH, nguyên UV Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước tại cuộc hội thảo KH: "Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968".

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết  Mậu Thân 1968 diễn ra cách đây tròn 40 năm. Ðộ lùi 40 năm càng cho chúng ta hôm nay nhận thức sâu hơn, toàn diện hơn về vai trò, vị trí của sự kiện trọng đại này.  Thật vậy, chiến thắng Tết Mậu Thân 1968 có tầm vóc lịch sử lớn, đánh dấu bước ngoặt quan trọng có ý nghĩa chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Với tầm nhìn xa trông rộng, từ lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đã nhận thấy rằng: Ðương đầu với kẻ thù có tiềm lực và sức mạnh kinh tế, quân sự lớn hơn ta gấp nhiều lần, chúng ta phải biết thắng từng bước cho đúng và đánh vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Ngay từ   năm 1965, trước sự phá sản của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ". Mưu đồ chiến lược này là bằng sức mạnh quân sự Mỹ cùng với quân ngụy mở các cuộc tiến công lớn "tìm diệt" (sau đó là "tìm diệt và bình định") chủ lực của ta ở miền Nam; dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện từ bắc vào nam, cô lập và đè bẹp cách mạng miền Nam.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (tháng 12-1965), Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã phân tích chiến lược mới của Mỹ và khẳng định sức mạnh của Mỹ không phải là vô hạn. Chúng lại có những chỗ yếu "chí tử", nhất là về chính trị, tinh thần bắt nguồn từ hành động chiến tranh xâm lược phi nghĩa, tàn bạo. Ta có thể hạn chế những chỗ mạnh, khoét sâu  chỗ yếu của Mỹ để đánh thắng chúng.

Trên cơ sở đánh giá đúng cả mặt mạnh và mặt yếu của địch, thế và lực của ta, Ðảng ta chỉ rõ: Cần tiếp tục giữ vững và phát huy thế chiến lược tiến công, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, trong đó đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp, để đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta tiếp tục tiến lên.

Tư tưởng chỉ đạo nói trên trở thành ý chí, hành động cách mạng của quân và dân cả nước. Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đã liên tiếp đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, trong đó có cuộc hành quân Junction City ở phía bắc tỉnh Tây Ninh - cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam; làm thất bại các bước leo thang chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ trên miền Bắc.

Bị thất bại liên tiếp, nhưng Westmoreland - Tổng chỉ huy quân Mỹ ở nam Việt Nam, còn đề nghị tăng 256.756 quân, chuẩn bị kế hoạch mở cuộc phản công lần thứ ba với quy mô lớn hơn.

Tuy chúng ta đã giành được nhiều thắng lợi, nhưng chưa làm chuyển biến cơ bản cục diện chiến tranh. Một vấn đề lớn đặt ra là ta cần có một đòn chiến lược có ý nghĩa quyết định để tạo ra cục diện  mới - một bước ngoặt của cách mạng miền Nam.

Những cố gắng chiến tranh của Mỹ đã ở mức cao, nhưng không xoay chuyển được tình thế. Trong nước, cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đang đến gần. Phong trào nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh của nhà cầm quyền Mỹ tiến hành ở Việt Nam càng cao (tháng 10-1967, tại Washington, các cuộc biểu tình của nhân dân Mỹ chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam có tới 50.000 người)(1) và sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của ta ngày càng rộng lớn. Mỹ ở thế bất lợi cả về quân sự và chính trị

Bám sát và phân tích động thái chiến trường, tình hình nước Mỹ và thế giới, Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 12-1967) dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: "Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược. Ðế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược"(2).

Từ đó, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Ðảng quyết định: "... Ðộng viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta tiến lên bước phát triển cao nhất bằng phương pháp tổng công kích - tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định"(3).

Bộ Chính trị cho rằng cần phải tập trung toàn bộ sức mạnh của chiến tranh cách mạng miền Nam, đánh địch bằng cả tiến công quân sự và tiến công chính trị.

Đây là "nhiệm vụ trọng đại và cấp bách", nhằm giáng cho địch một đòn thật mạnh, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, tạo ra sự thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta, "chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định"(4). Hướng tiến công chiến lược chủ yếu là các thành phố, trung tâm đầu não của Mỹ - ngụy trên toàn miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân.

Căn cứ vào chủ trương trên, ta triển khai nhiều biện pháp tổ chức thực hiện: Xây dựng quyết tâm, tạo sự nhất trí cao giữa Trung ương và chiến trường cả về tư tưởng lẫn hành động; tiến hành nghi binh bằng quân sự, tiến hành mọi công tác chuẩn bị theo một kế hoạch chặt chẽ, nghiêm ngặt, giữ bí mật ý định chiến lược của ta.

Nhớ lại đầu năm 1967, Trung ương Cục đánh giá cũng trúng và chỉ đạo mùa mưa này chuẩn bị thật tốt để mùa khô tới giành thắng lợi lớn hơn. Bộ chỉ huy Miền tăng cường và phát triển lực lượng biệt động, lấy người tại chỗ ngay trong nội thành.

Trung ương Cục giao cho anh Võ Văn Kiệt, Bí thư Thành ủy Sài Gòn-Gia Ðịnh, lo xây dựng, củng cố các lực lượng biệt động thành và tăng cường các đồng chí cán bộ đầu ngành vào chỉ đạo các lực lượng chính trị trong nội thành. Ðồng thời, Trung ương Cục chỉ đạo Bộ chỉ huy Miền và các quân khu phối hợp với các Tỉnh ủy, Thành ủy làm tốt công tác chuẩn bị. 

Tháng 10-1967, anh  Nguyễn Văn  Linh và anh Trần Văn Trà ra Trung ương họp. Sang tháng 11, hai anh trở vào phổ biến việc Bộ Chính trị quyết định tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Ðể chuẩn bị cho tổng công kích, trên điều anh Hoàng Văn Thái vào làm Tư lệnh Bộ chỉ huy Miền. 

Trước khi nổ ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, tuy đã có bước chuẩn bị các hướng rồi, nhưng còn nhiều việc phải làm, thời gian lại quá gấp. Hơn nữa, ý của trên đánh thế nào không được phổ biến kỹ, mọi người chỉ hiểu là: "đánh vào đô thị".

Chúng tôi thảo luận: Phải nghiên cứu tìm ra cách đánh táo bạo cho đòn tiến công, có ý nghĩa chiến lược, dự kiến các tình huống và các phương án cụ thể. Trong quá trình xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược, Bộ chỉ huy Miền chú trọng việc theo dõi, đánh giá khả năng hành động của bộ đội ta khi đánh vào thành phố và khả năng nổi dậy của quần chúng, cũng như khả năng binh biến trong ngụy quân, ngụy quyền...

Mặc dù thời gian chuẩn bị gấp, nhưng ta đã vận chuyển được một khối lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến đấu, giấu trong nhà dân gần các mục tiêu dự định tiến công. Nhưng, không phải đến lúc nhận lệnh ta mới chuẩn bị. Mà trước đó, những gì lo được, ta đã tính toán chuẩn bị. Từ năm 1965, ta đã  xây dựng các hầm chứa vũ khí và hầm bí mật  trong nội thành.

Tính đến cuối năm 1967, ta đã thiết lập được 19 "lõm căn cứ" chính trị ngay sát những mục tiêu trọng yếu của địch, bao gồm: 325 gia đình cơ sở, 400 điểm ém quân, 12 kho vũ khí, thiết lập đường dây liên lạc và chuyển vũ khí vào gần các mục tiêu tiến công, sẵn sàng đón và đáp ứng thời cơ chiến lược.

Ðây là thắng lợi lớn của phương châm đánh địch trên ba vùng chiến lược, là một trong những cơ sở quan trọng để Ðảng ta hạ quyết tâm đưa chiến tranh vào đô thị, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Cho đến nay, đã hơn một phần ba thế kỷ, nhiều nhà nghiên cứu quân sự trong nước và ngoài nước, kể cả bộ máy chiến tranh của Mỹ, vẫn cố tìm hiểu, bằng cách gì mà ta triển khai trên diện rộng toàn miền Nam, bằng cách gì mà ta đồng loạt nổ súng tiến công ở tất cả các đô thị, tỉnh lỵ mà ta vẫn giữ được tuyệt đối bí mật?

Tôi nhớ, gần sát "thời điểm Tổng tiến công", Bộ Chính trị và đồng chí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Lê Duẩn mới triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 14; họp xong, về ngay để triển khai nhiệm vụ. Ðồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục, gọi riêng từng đồng chí Bí thư Tỉnh ủy lên giao nhiệm vụ. Mỗi tỉnh chỉ  một người biết rõ "Giờ G, ngày N" - thời điểm nổ súng đồng loạt tiến công địch.

Điều này, nói lên sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh, sáng tạo của Ðảng ta; sự thống nhất của ý chí, sự nghiêm minh của kỷ luật chiến trường đã quyện trong ý thức tự giác, lòng trung thành và phẩm chất mẫu mực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Ngay sự thống nhất ý chí, hành động của quân và dân ta lúc đó đã tạo sức mạnh tiến công đối với quân thù. Ðây cũng là yếu tố quan trọng tạo nên chiến thắng trong Tết Mậu Thân 1968.

Quần chúng đã tham gia tích cực vào cuộc chuẩn bị cho đợt tổng tiến công này và sau khi nổ súng đã tham gia đông đảo bằng nhiều hình thức trên nhiều lĩnh vực. Nhân dân trinh sát, nắm tình hình, dẫn đường, che giấu cán bộ và tích cực tham gia chiến đấu, tiếp tế cơm nước cho bộ đội, nuôi dưỡng thương binh rồi đưa về căn cứ an toàn. Nhiều người, có trường hợp cả gia đình bị địch bắt, khủng bố, tù đày... vẫn một lòng hướng về cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng đất nước.

Do xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân - thế trận lòng dân, nên chúng ta đã làm tốt công tác chuẩn bị, giữ được bí mật cho đến giờ nổ súng và chúng ta mới có thể tiến công địch theo kiểu Mậu Thân 1968.

Ðiều này, khiến giới lãnh đạo Washington kinh hoàng vì khi cuộc tiến công "Tết Mậu Thân" vừa xảy ra, nhiều nhà hoạt động chính trị Mỹ đã ý thức được ngay rằng: Cuộc tiến công "Tết Mậu Thân" chứng tỏ Mỹ hoàn toàn không kiểm soát được gì đất nước này"(5), "... chứng tỏ  nhân dân miền Nam Việt Nam ủng hộ kẻ thù của Mỹ"(6).

Thực hiện kế hoạch đã định, cuối tháng 1-1968, ta bắt đầu mở đợt hoạt động lớn ở Mặt trận Ðường 9 - Khe Sanh, nhằm đánh lạc hướng, thu hút một bộ phận đáng kể quân cơ động của Mỹ; vây hãm, giam chân và tiêu hao chúng, tạo thế cho các chiến trường khác tiến công và nổi dậy.

Lập tức, tướng Westmoreland  - Tổng chỉ huy quân Mỹ ở nam Việt Nam, phải điều quân tăng cường, chống giữ; cho không quân ném bom các khu rừng chung quanh căn cứ Khe Sanh và khu vực giới tuyến. Như vậy, tướng Westmoreland đã sập vào đòn nghi binh chiến lược của ta.

Cùng thời điểm này, trên chiến trường nước bạn Lào, từ ngày 12 đến 27-1-1968, quân đội Pa-thét Lào và Quân tình nguyện Việt Nam mở chiến dịch Nậm Bạc đã thắng lớn. Chiến thắng này là sự phối hợp nhịp nhàng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của chúng ta.

Ðêm 29 rạng ngày 30-1-1968 (tức đêm giao thừa Tết Mậu Thân, theo lịch miền Nam), quân và dân ta đồng loạt nổ súng tiến công trên toàn chiến trường miền Nam, gồm 4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn, 4 Bộ tư lệnh Quân đoàn địch, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần của chúng.

Trong đó, có những trận đánh gây chấn động lớn như trận đánh vào Dinh Ðộc lập, vào Bộ Tổng tham mưu, vào Ðài phát thanh Sài Gòn, vào tòa Ðại sứ Mỹ và đặc biệt ta đã làm chủ thành phố Huế trong 25 ngày đêm.

Cuộc Tổng tiến công táo bạo của ta đã làm cho bộ máy điều hành chiến tranh Việt Nam của Mỹ sững sờ. Chỉ trong 24 giờ đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của kẻ địch đều bị tiến công đồng loạt. Cái thế của hai bên trong chiến tranh bị đảo lộn, hậu phương của địch bỗng chốc trở thành tiền tuyến nóng bỏng.

Ðúng là ta đã ra những đòn sấm sét ngay trong lúc Mỹ - ngụy có hơn một triệu quân, nắm trong tay những phương tiện chiến tranh hiện đại, lại bố trí trong thế phòng thủ liên hoàn vững chắc, mà chúng hoàn toàn bị bất ngờ.

Có thể nói, đợt đầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, chúng ta đã ra đòn bất ngờ và đánh trúng vào hệ thần kinh trung ương của địch, đánh vào "huyết mạch", vào "tim óc" và "yết hầu" của chúng.

Ðòn tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 như một quả bom nổ giữa chính trường nước Mỹ, đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ, khiến cho chính quyền Mỹ choáng váng. Qua sự kiện Tết Mậu Thân, công chúng Mỹ đã thấy được Chính phủ Mỹ đang lừa dối họ. Do đó, phong trào phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam càng lên cao. Nhiều người trong chính giới Mỹ đòi xét lại chính sách của Mỹ với cuộc chiến tranh này.

Ngày 27-2-1968, Crô-ki-tơ, một phóng viên chính của Hãng truyền hình CBS Mỹ đến Sài Gòn tận mắt xem xét tình hình, đã bình luận: "Giờ đây, có lẽ điều chắc chắn hơn bao giờ hết là cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam sẽ đi vào bế tắc" và nói thêm rằng "chỉ còn một cách để người Mỹ thoát khỏi vũng lầy là thương lượng với Hà Nội"(7).

Trước tình hình đó, Quốc hội Mỹ phải xem xét lại toàn bộ chính sách và chiến lược của Mỹ ở nam Việt Nam. Nội bộ các cố vấn thân cận Tổng thống Mỹ diễn ra sự chia rẽ gay gắt về quan điểm đối với cuộc chiến tranh mà Mỹ đang theo đuổi ở Việt Nam.

Dư luận Mỹ và phần lớn nghị sĩ Quốc hội, quan chức cao cấp trong chính quyền và giới tài phiệt nhận thức rõ ràng rằng: Mỹ không thể giành chiến thắng ở Việt Nam; rằng có tăng quân, tăng tiền của, Mỹ cũng không thể giành lại quyền chủ động trên chiến trường.

Ngày 25-3-1968, Tổng thống Johnson và Bộ trưởng Quốc phòng Clifford (người mới thay McNamara) phải triệu tập cuộc họp gọi là "những người am hiểu và khôn ngoan nhất", gồm 14 quan chức cao cấp. Sau những tranh cãi gay gắt, thì 10 trên 14 người đã tán đồng chấm dứt leo thang chiến tranh và có biện pháp rút lui ra khỏi cuộc chiến.

Tiếp đó, ngày 26-3-1968, Bộ trưởng Quốc phòng Clifford đã báo cáo với Tổng thống rằng, theo ý ông, cuộc chiến tranh Việt Nam là "một canh bạc thua thực sự"(8). Cuối cùng, nước Mỹ đã đi đến quyết định: Tướng Westmoreland - Tổng chỉ huy quân Mỹ ở nam Việt Nam bị cách chức; Ðô đốc Sáp thôi giữ chức Tư lệnh Thái Bình Dương.

Ngày 31-3-1968, Johnson buộc phải đơn phương tuyên bố: Ngừng ném bom bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị, đàm phán song phương với ta tại Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam,  chấm dứt việc đưa quân Mỹ vào chiến trường miền Nam và tuyên bố không ra tranh cử nhiệm  kỳ thứ hai. Ðây là sự công khai thừa nhận chiến lược "Chiến tranh cục bộ" đã phá sản.

Vì thất bại nặng nề, sau Mậu Thân 1968, Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược chiến tranh, tiến hành "Việt Nam hóa chiến tranh" (thực chất là thay mầu da trên xác chết, như một quan chức Mỹ nói). Ðể thực hiện kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh", chúng tiến hành theo ba bước.

Bước một, đến 30-6-1970: Thực hiện "bình định" vùng đông dân để quân Mỹ rút được một bộ phận. Bước hai, đến 30-6-1971: "Bình định" được tất cả các vùng đông dân  để quân Mỹ rút được đại bộ phận lực lượng chiến đấu. Bước ba, đến 30-6-1972: Cơ bản, Sài Gòn chỉ huy được miền Nam. Hoàn thành giai đoạn cơ bản nhất của "Việt Nam hóa chiến tranh". Mỹ sẽ rút hết quân về nước, đáp ứng kịp thời việc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11-1972.

Mỹ đề ra kế hoạch "phát triển tối tân hóa" quân ngụy, chúng dự kiến tiến hành trong ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Với số quân 875.790 người. Giai đoạn 2: Ðưa quân số lên 992.836 người, bổ sung cho giai đoạn 1. Giai đoạn 3: Ðưa số quân lên 1.100.000 người. Ðể bảo đảm số quân, chúng ra sức bắt lính, đôn quân. Chúng bắt hết thanh niên vào lính. Chúng chú trọng phát triển cả ba quân chủng: thành lập bộ tư lệnh lục quân, phát triển thiết giáp, pháo binh, hiện đại hóa trang bị.

Trong ba năm 1968 - 1970, địch tăng thêm 16 tiểu đoàn pháo 105 li, 9 tiểu đoàn pháo 155 li, 77 tiểu đoàn pháo lãnh thổ, 25 ban pháo tiểu khu. Khối bộ binh cơ động tăng từ 50 tiểu đoàn (12-1968) lên 90 tiểu đoàn (1-1970).

Về không quân, số máy bay tăng từ 400 chiếc các loại năm 1968 lên 784 chiếc trong năm 1971. Hải quân phát triển từ 660 chiếc tàu các loại năm 1968 lên 1.037 chiếc trong năm 1970. Và 2.000 xe tăng và xe bọc thép...

Ðến cuối năm 1971, quân Mỹ cơ bản đã chấm dứt vai trò chiến đấu trên bộ. Tính đến ngày 31-1-1972, tổng số quân Mỹ ở miền Nam chỉ còn 139.000. Tính theo đơn vị, 30 trên tổng số 34 lữ đoàn đã rút.

Như vậy, đến đầu năm 1972, Mỹ đã cơ bản thực hiện xong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Nhưng lúc đó, bộ đội ta, kể cả lãnh đạo, chỉ huy chưa hiểu hết cái khó khăn, khốc liệt của "Việt Nam hóa chiến tranh" và chưa thấy hết cái độc ác của đế quốc Mỹ (có thể nói cái độc ác này chưa từng có trong lịch sử); nên lúc đầu, có nơi bộ đội ta đã thoát ly khỏi địa bàn, không làm chỗ dựa cho dân, cho cơ sở chống "bình định", nên đã gây cho dân và cơ sở nhiều tổn thất. Ðây cũng là bài học xương máu.

Trong quá trình rút quân, Mỹ dùng mọi thủ đoạn độc ác và mọi biện pháp như: Tăng cường cảnh sát và mật thám ở đô thị, gom dân vào ấp chiến lược ở nông thôn, tăng cường bắt lính, xây dựng ngụy quân, ngụy quyền. Nhân dân ở đô thị sống trong cảnh ngột ngạt đến nghẹt thở dưới sự kiểm soát, o ép của chính quyền ngụy. Người dân trong ấp chiến lược như sống trong trại tù khổng lồ.

Vì vậy, khi thời cơ chín muồi (Mỹ rút hết quân), có tác động mạnh của bộ đội ta và hoạt động nhịp nhàng của các ngành, các chiến trường, thì những người bị bắt lính, những người  sống nghẹt thở ở đô thị và những người bị nhốt trong ấp chiến lược được bung ra thành những người tự do, thành vùng tự do, đỉnh cao là chiến dịch  Sài Gòn - Gia Ðịnh mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trên đà thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta tiếp tục chiến đấu, dù còn phải trải qua nhiều gian khổ, ác liệt, hy sinh, nhưng chúng ta có điều kiện mới và thời cơ mới để thực hiện thắng lợi Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: "Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

40 năm nhìn lại, chúng ta càng thêm tự hào về ý nghĩa, tầm vóc của Chiến thắng Mậu Thân 1968 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Ðó là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ, bản lĩnh và sáng tạo trong việc đề ra chủ trương chiến lược; là thắng lợi của niềm tin  tuyệt đối của toàn dân, toàn quân vào sự lãnh đạo của Ðảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu; là thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn, sức mạnh  của khối đại đoàn kết toàn dân, tất cả vì chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"!

Kỷ niệm 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân - 1968 là dịp để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta ôn lại một sự kiện lớn đánh dấu một mốc son trong lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng của dân tộc, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam và phát huy tinh thần cách mạng tiến công, biến thành những việc làm cụ thể, kết quả cụ thể của mỗi người, của mọi người vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,  xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

  • ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH                                                                                               

------------------------------------
(1) Dẫn theo G.Pim-lốt trong cuốn "Việt Nam - những trận đánh quyết định". Trung tâm Thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường - Bộ Quốc phòng, xuất bản năm 1997, tr124.
(2, 3, 4) Nghị Quyết Bộ Chính trị tháng 12 - 1967
(5, 6) Lời của E.M.Các-ti, G.Rôn nây, R.Ken-nơ-đi. Dẫn theo Đôn O-bớc-đoi-phơ, Tết, Doubeday Company, New York 1971. NXB Tổng hợp An Giang trích dịch 1988, tr 116. 
(7) Theo J.Pim-lốt trong cuốn Việt Nam - những trận đánh quyết định". Trung tâm Thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường - Bộ Quốc phòng, xuất bản năm 1997, tr 122. 
(8)  Theo J.Pim-lốt trong cuốn Việt Nam - những trận đánh quyết định". Trung tâm Thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường - Bộ Quốc phòng, xuất bản năm 1997, tr 104.  

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu