Lãnh hải VN, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 4)

(TuanVietNam) - Phần trích đăng sau đây từ cuốn "Sổ tay pháp lý cho người đi biển" sẽ giải thích một số khái niệm căn bản về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam như: trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có các quyền gì? Thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam gồm những phần nào? sự kiện nóng


Tên sách: SỔ TAY PHÁP LÝ CHO NGƯỜI ĐI BIỂN
Tác giả: Tập thể tác giả, Luật sư, TS Hoàng Ngọc Giao chủ biên
Phát hành: Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới, NXB Chính trị Quốc gia, 2002.

***

>> Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 1)
>>
Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 2)
>> Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 3)

Vùng đặc quyền về kinh tế là gì? Nó có phải là vùng biển của quốc gia không?

Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, và được đặt dưới chế độ pháp lý riêng theo đó các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như các quyền và các quyền tự do của quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh. Chiều rộng của vùng đặc quyền về kinh tế không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Nói khác đi, chiều rộng của vùng đặc quyền về kinh tế là 188 hải lý.

Vùng đặc quyền về kinh tế không phải là biển cả mà là một vùng đặc thù sui generic, trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 quy định, không chia sẻ với các quốc gia khác. Để xác lập vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển cần đưa ra tuyên bố về vùng đặc quyền về kinh tế để xác lập quyền của mình.

Trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có:

a) Các quyền thuộc chủ quyền về thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió.

b) Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc:

i. Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình;
ii. Nghiên cứu khoa học về biển;
iii. Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;

c) Các quyền và nghĩa vụ khác do Công ước quy định.

Quốc gia ven biển quản lý các tài nguyên trong vùng đặc quyền về kinh tế:

  • Đối với các tài nguyên không sinh vật, quốc gia ven biển tự khai thác hoặc cho phép quốc gia khác khai thác cho mình và đặt dưới quyền kiểm soát của mình.
  • Đối với các tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển tự định ra tổng khối lượng có thể đánh bắt được, tự đánh giá khả năng thực tế của mình trong khai thác và ấn định số dư của khối lượng cho phép đánh bắt. Nếu có dư, quốc gia ven biển có thể cho phép các quốc gia khác khai thác số dư thông qua điều ước hoặc thỏa thuận giữa các bên, quốc gia cần ưu tiên cho các quốc gia không có biển hoặc các quốc gia bất lợi về địa lý.

Quốc gia ven biển có nghĩa vụ thi hành các biện pháp thích hợp để bảo tồn và quản lý nhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền về kinh tế của mình khỏi bị khai thác quá mức.

Thực hiện các quyền chủ quyền nêu trên theo Công ước về Luật biển năm 1982, quốc gia ven biển có quyền thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các quy định mà họ đã ban hành theo đúng Công ước. Tuy nhiên, cần lưu ý:

  • Khi có sự bảo lãnh hay một bảo đảm đầy đủ khác thì cần thả ngay chiếc tàu bị bắt và trả tự do ngay cho đoàn thủy thủ của chiếc tàu này.
  • Không được áp dụng các hình phạt giam giữ cũng như các hình phạt thân thể khác nếu không có thỏa thuận khác.
  • Phải thông báo ngay cho quốc gia mà tàu mang cờ vi phạm biết các biện pháp cũng như các chế tài áp dụng.

Trong vùng đặc quyền về kinh tế, các quốc gia khác đều được hưởng quyền tự do hàng hải, hàng không, quyền tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm cũng như quyền tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước. Khi đặt đường ống, phải thông báo và thỏa thuận với quốc gia ven biển.

(Nguồn ảnh: baophuyen.com)


Vùng đặc quyền về kinh tế của Việt Nam là gì?

Tuyên bố 77 xác lập chiều rộng của vùng đặc quyền về kinh tế Việt Nam là 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền về kinh tế Việt Nam, có các quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền về kinh tế nhằm mục đích kinh tế, có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền về kinh tế của Việt Nam, có thẩm quyền riêng biệt trong việc thiết lập, lắp đặt và sử dụng các công trình, các đảo nhân tạo, có thẩm quyền riêng biệt về bảo vệ chống ô nhiễm môi trường.

Thềm lục địa là gì?

Thềm lục địa theo nghĩa pháp lý không hoàn toàn trùng với thềm lục địa địa chất. Theo Công ước Luật biển 1982, thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở 200 hải lý nếu như rìa ngoài của bờ lục địa ở khoảng cách gần hơn.

Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục địa kéo dài tự nhiên vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, thì quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa theo sự kéo dài tự nhiên đó, nhưng cũng không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không quá 100 hải lý.

Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình; quyền này là đặc quyền và đương nhiên tồn tại không phụ thuộc vào việc có chiếm hữu hay tuyên bố hay không. Khi quốc gia tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý thì phải đóng góp một khoản theo quy định của Công ước Luật biển 1982.

Quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay của vùng trời trên vùng nước này. Quốc gia ven biển không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và tự do khác của các quốc gia khác đã được Công ước thừa nhận.

Các quốc gia khác có quyền đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa, nhưng phải thỏa thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của ống dẫn hay dây cáp.

Thềm lục địa Việt Nam như thế nào?

Thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của lục địa Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào rìa ngoài của bờ lục địa cách đường cơ sở không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra đến 200 hải lý kể từ đường cơ sở.

Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam, bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư ở thềm lục địa Việt Nam. Các đảo, quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền Việt Nam đều có lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa riêng.

Thềm lục địa Việt Nam theo cấu tạo tự nhiên gồm bốn phần:

  • Thềm lục địa vịnh Bắc Bộ;
  • Thềm lục địa khu vực miền Trung;
  • Thềm lục địa khu vực phía Nam;
  • Thềm lục địa khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tại khu vực miền Trung, thềm lục địa ra ngoài khoảng 50 km đã thụt sâu xuống hơn 1.000 m, như vậy ở đây thềm lục địa mở rộng ra tới 200 hải lý kể từ đường cơ sở.

Hải quân Việt Nam. (Ảnh: Phạm Hùng Cường)


Vấn đề phân định không gian biển giữa các quốc gia có vùng chồng lấn như thế nào?

Khi các vùng biển và thềm lục địa của đất liền hoặc của các đảo của các quốc gia ven biển chồng lấn lên nhau, người ta cần phải tiến hành phân định. Như vậy, phân định là quá trình hoạch định đường ranh giới phân tách hai hay nhiều quốc gia có các vùng biển tiếp liền với nhau và không được phân tách bởi biển cả hoặc đáy biển, vùng di sản chung của loài người. Việc phân định thường là một hoạt động có tính quốc tế, do hai hay nhiều quốc gia hữu quan cùng tiến hành.

Việc phân định có thể là phân định nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp giáp.

Việc phân định phải tuân thủ các nguyên tắc của luật quốc tế:

  • Nguyên tắc thỏa thuận phù hợp với luật quốc tế;
  • Nguyên tắc công bằng;
  • Nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.

Có hai loại hoạch định biên giới biển:

  1. Vạch đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải, sau đó xác định nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa, và
  2. Phân định biển giữa các quốc gia có bờ biển đối diện nhau hoặc tiếp giáp nhau, có các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn.
  • Tuần Việt Nam (giới thiệu)
* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu