Lãnh hải VN, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 3)

(TuanVietNam) - Tuần Việt Nam tiếp tục tríchđăng một phần quan trọng trong cuốn “Sổ tay pháp lý cho người đi biển”, về quyền qua lại không gây hại, lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam. Các tác giả nêu rõ: "Lãnh hải của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ được xác lập khi vấn đề chủ quyền được giải quyết...". sự kiện nóng


Tên sách: SỔ TAY PHÁP LÝ CHO NGƯỜI ĐI BIỂN
Tác giả: Tập thể tác giả, Luật sư, TS Hoàng Ngọc Giao chủ biên
Phát hành: Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới, NXB Chính trị Quốc gia, 2002.

***

>> Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 1)
>> Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 2)

Quyền qua lại không gây hại là gì?

Quyền qua lại không gây hại là một quyền dành riêng cho tàu thuyền nước ngoài tại lãnh hải của một quốc gia ven biển. Quyền này là một nguyên tắc tập quán của luật quốc tế và được thừa nhận bằng thực tiễn của các quốc gia. Nền tảng của nó là nguyên tắc tự do hàng hải.

Đi qua lãnh hải được hiểu là: đi qua lãnh hải mà không vào nội thủy, không đậu lại tại các công trình cảng hay một vũng tàu ở bên ngoài nội thủy, đi qua lãnh hải để vào nội thủy hoặc rời nội thủy đi ra biển cả.

Việc đi qua được tiến hành liên tục và nhanh chóng. Các tàu thuyền nước ngoài chỉ có thể dừng lại và thả neo khi gặp những sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng, hay mắc nạn, hoặc vì mục đích cứu giúp người hay tàu thuyền, phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn. Sau khi các sự biến trên kết thúc, tàu thuyền nước ngoài phải tiếp tục hành trình liên tục và nhanh chóng (Điều 18, Công ước Luật biển 1982).

Qua lại không gây hại được hiểu là không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển. Việc qua lại không gây hại phải được tiến hành phù hợp với Công ước Luật biển 1982 và pháp luật quốc tế. Tàu ngầm nước ngoài khi đi trong lãnh hải phải đi trong trạng thái nổi và treo cờ quốc tịch.

Việc đi qua của tàu thuyền nước ngoài bị coi là phương hại đến hòa bình, trật tự, an ninh của quốc gia ven biển nếu như ở trong lãnh hải tàu thuyền nước ngoài tiến hành một trong bất kỳ hành động nào sau đây:

  • Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển, hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương của LHQ;
  • Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;
  • Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;
  • Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;
  • Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;
  • Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;
  • Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển;
  • Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước Luật biển 1982;
  • Đánh bắt hải sản;
  • Nghiên cứu hay đo đạc;
  • Làm rối loạn hoạt động của bất kỳ hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển;
  • Mọi hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.

Khi tiến hành bất kỳ hành động nào được liệt kê trên đây, tàu thuyền nước ngoài bị coi là vượt quá quyền qua lại không gây hại và sẽ bị xử lý theo pháp luật.

Lãnh hải của Việt Nam được xác định gồm những khu vực nào?

Lãnh hải Việt Nam được xác lập theo Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ngày 12-5-1977 về các vùng biển của Việt Nam.

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời phía trên, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải.

(trích Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ngày 12-5-1977)

Chiều rộng của lãnh hải được xác lập là 12 hải lý tính từ đường cơ sở trở ra. Điều này phù hợp với luật quốc tế.

Lãnh hải ven bờ lục địa được tính từ hệ thống đường cơ sở thẳng đã công bố trong Tuyên bố 82. Nhưng hệ thống này vẫn còn hai điểm ngỏ ở cửa vịnh Bắc Bộ và trên vịnh Thái Lan. Hơn nữa, hiện hệ thống này bị các nước khác phản đối vì chúng ta đã sử dụng nhiều đảo xa bờ làm điểm cơ sở. Chúng ta đang xem xét việc vạch lại đường cơ sở đã công bố này trong thời gian thích hợp.

Theo Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa giữa ta và Trung Quốc, các điểm từ 1 đến 9 là biên giới lãnh hải của nước ta trong vịnh Bắc Bộ. Như vậy, các điểm này là ranh giới bên ngoài của lãnh hải Việt Nam tại khu vực đó (xem Bản đồ phân định vịnh Bắc Bộ giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa).

Lãnh hải của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ được xác lập khi vấn đề chủ quyền được giải quyết.

Như vậy, việc xác lập khu vực lãnh hải cụ thể trên thực địa của chúng ta hiện nay vẫn chưa hoàn tất vì hệ thống đường cơ sở của ta vẫn chưa đầy đủ. Điểm này gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động của các lực lượng quản lý biển cũng như người đi biển. Trong thời gian tới, Nhà nước cần khẩn trương xác lập và công bố hệ thống đường cơ sở hoàn chỉnh. 

Một phần quần đảo Trường Sa nhìn từ trên cao. (Nguồn ảnh: photobucket.com)

Quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài tại lãnh hải Việt Nam? Tàu của nước ta có được hưởng quyền qua lại vô hại trong lãnh hải nước ta không?

Nước ta tôn trọng quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải theo đúng quy định của Công ước Luật biển 1982.

Mọi tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển Việt Nam (bao gồm việc vào, ra, qua lại, trú đậu, và làm các công việc khác) đều phải tôn trọng chủ quyền của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đối với từng vùng biển, phải chấp hành đầy đủ những quy định của nghị định này và những luật lệ, chế độ, quy định khác có liên quan của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam ban hành.

Tàu, thuyền nước ngoài hoạt động trong vùng biển của Việt Nam phải chịu sự giám sát và sự kiểm soát của các lực lượng Việt Nam có thẩm quyền nhằm bảo đảm sự tôn trọng và chấp hành nghị định này và những luật lệ, chế độ, quy định khác có liên quan của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

(trích Điều 2 Nghị định 30/CP ngày 21-01-1980)

Điều này rõ ràng đã thừa nhận quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam.

Trong nội thủy và lãnh hải Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài phải đi nhanh chóng, liên tục, theo đúng tuyến đường và đúng các hành lang quy định, không được vào các khu vực cấm (Điều 9, Nghị định 30/CP).

Việc quy định các tàu phải đi theo tuyến đường và hành lang quy định hoàn toàn không trái với Điều 22 của Công ước Luật biển 1982. Nhưng trên thực tế, cho đến nay, ta vẫn chưa quy định các tuyến đường và hành lang, nên các tàu thuyền nước ngoài vẫn đi theo các tuyến đường hàng hải truyền thống.

Tàu thuyền nước ngoài trong những trường hợp khẩn cấp không thể khắc phục được như gặp thiên tai, tai nạn uy hiếp đến an toàn của tàu thuyền và sinh mạng của những người đi trên tàu thuyền… bắt buộc phải dừng lại hoặc thả neo trong lãnh hải Việt Nam, thì phải tìm mọi cách liên lạc nhanh chóng và báo cáo lập tức với cơ quan có thẩm quyền Việt Nam ở nơi gần nhất; phải chịu mọi sự kiểm soát của các nhà chức trách Việt Nam để làm rõ tính chân thực của lý do nêu ra, và phải tuân theo mọi hướng dẫn của các nhà chức trách Việt Nam (Điều 6 Nghị định 30/CP).

Việc qua lại không gây hại cũng được quy định trong Nghị định 30/CP trong các Điều 2, 10, 11, 12, 13, 14 và 17. Về cơ bản, chúng giống với quy định tại Điều 19 Công ước Luật biển 1982.

Tàu ngầm nước ngoài (bao gồm tàu ngầm quân sự và dân sự) khi thực hiện quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải Việt Nam nhất thiết phải ở tư thế nổi, phải treo cờ của nước mà tàu đó mang quốc tịch.

Việt Nam không công nhận quyền qua lại không gây hại của tàu quân sự nước ngoài. Tàu thuyền quân sự (bao gồm cả tàu chiến và tàu bổ trợ) muốn vào vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam phải xin phép Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (qua đường ngoại giao) ít nhất 30 ngày trước, và sau khi được phép vào, phải thông báo cho các nhà đương cục quân sự Việt Nam (qua Bộ Giao thông Vận tải nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) 48 giờ trước khi bắt đầu đi vào vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam (Điều 3 Nghị định 30/CP).

Quy định này không phù hợp với Công ước Luật biển 1982, vì Công ước này cho phép tất cả các loại tàu thuyền, kể cả tàu thuyền quân sự, đều được hưởng quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải Việt Nam.

Đối với tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở chất phóng xạ/ các chất gây nguy hiểm độc hại khác cũng được quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, nhưng phải cung cấp cho các nhà chức trách Việt Nam các tài liệu kỹ thuật và tiến hành các biện pháp phòng chống đặc biệt nhằm tránh ô nhiễm do tàu thuyền gây ra, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế trong lĩnh vực này. Các tàu thuyền cũng phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự phòng chống ô nhiễm môi trường (Điều 23 Bộ luật Hàng hải). Việc Điều 23 Bộ luật Hàng hải quy định các tàu thuyền loại này khi vào hoạt động trong lãnh hải Việt Nam phải được phép của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) là trái với Công ước Luật biển 1982.

Các tàu thuyền Việt Nam đương nhiên được quyền qua lại trên các vùng biển Việt Nam. Vấn đề quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải Việt Nam không đặt ra với các tàu thuyền Việt Nam mà chỉ đặt ra với tàu thuyền nước ngoài. Khi hoạt động trên các vùng lãnh hải nước ngoài, tàu thuyền Việt Nam đương nhiên được hưởng quyền lại không gây hại.

Vùng biển Việt Nam có tới 11.000 loài sinh vật cư trú và được công nhận là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học biển và là một trong 20 vùng biển giàu hải sản trên thế giới. (Nguồn: TTXVN)

Vùng tiếp giáp lãnh hải là gì? Quy chế vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam như thế nào?

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, tại đó quốc gia ven biển thực hiện các thẩm quyền có tính riêng biệt và hạn chế đối với các lĩnh vực nhất định. Phạm vi vùng tiếp giáp lãnh hải không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở.

Nguồn gốc sự ra đời vùng này là do nhu cầu kiểm soát thuế quan của quốc gia ven biển chống lại các hoạt động buôn lậu trên biển.

Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm:

  • Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình;
  • Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình.

Vùng tiếp giáp lãnh hải không phải là vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia, nhưng cũng không phải là biển cả. Nó là một phần của vùng đặc quyền về kinh tế và có quy chế đặc biệt (sui generic).

Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ. Mọi việc trục vớt các hiện vật này từ đáy biển thuộc vùng tiếp giáp lãnh hải mà không được sự cho phép của quốc gia ven biển đều bị coi là vi phạm xảy ra trên lãnh thổ và lãnh hải của quốc gia ven biển.

Tuyên bố 77 quy định rõ việc Việt Nam thực hiện quyền kiểm soát với vùng biển rộng 12 hải lý tiếp liền với lãnh hải nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, và nhằm bảo đảm sự tuân thủ các quy định về y tế, di cư và nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.

Những quy định này về cơ bản phù hợp với Công ước Luật biển 1982, nhưng có mở rộng thêm phạm vi kiểm soát cả với các tàu thuyền nước ngoài nhằm ngăn chặn và trừng trị vi phạm về an ninh và di cư trên đất liền hay trong lãnh hải Việt Nam. Việc mở rộng này là do hoàn cảnh lịch sử, và chúng ta đang xem xét sửa đổi lại cho phù hợp với Công ước. Trong khi chưa sửa đổi, các cơ quan quản lý cần thực hiện việc kiểm soát một cách linh hoạt, phù hợp với tinh thần Công ước Luật biển 1982 đã có hiệu lực với nước ta.

Pháp luật Việt Nam cũng chưa quy định về việc trục vớt hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ trong vùng tiếp giáp lãnh hải.

Kỳ sau: Về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu