Khủng hoảng: Cơ hội tái tổ chức chính trị Đông Nam Á

(Tuần Việt Nam) - Điều gì sẽ xảy ra với cuộc khủng hoảng hiện nay. Liệu làn sóng suy thoái kinh tế toàn cầu có thay đổi động lực phát triển và kinh tế chính trị tại khu vực? Liệu nó có phải là dấu kết cho mô hình phát triển Đông Á, hay ít nhất là mang tới những thay đổi lớn? Và điều gì đang đón đợi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, hay ASEAN? sự kiện nóng


Đông Nam Á đã từng là tâm chấn của cơn khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997-1998, bắt nguồn từ Thái Lan và nhanh chóng làm rung chuyển các quốc gia láng giềng. Trong cuộc khủng hoảng hiện thời, Đông Nam Á chỉ đóng vai trò là nạn nhân bất đắc dĩ.

Nhưng những đợt sóng ngầm hiện nay đang khiến nhiều người tự hỏi: Liệu làn sóng suy thoái toàn cầu có thay đổi động lực phát triển và kinh tế chính trị tại khu vực; hay nó sẽ là dấu kết cho mô hình phát triển Đông Á, hoặc ít nhất là mang tới những thay đổi lớn cho khu vực?

Bài học từ thập niên 1990

Tỷ lệ tăng trưởng GDP, tiết kiệm và đầu tư của khu vực Đông Á từ sau khủng hoảng 1997 - 1998 (Ảnh nguồn: thehindubusinessline.com)

Cuộc khủng hoảng năm 1997-1998 đã dẫn đến việc sụt giảm tỉ lệ tăng trưởng tại ba nền kinh tế lớn nhất của khu vực khi đó là Indonesia, Malaysia và Thái Lan.

Tại Indonesia, cuộc khủng hoảng này đã góp phần làm sụp đổ thể chế chuyên chính của nhà độc tài Suharto, và đưa quốc gia này chuyển tiếp đến chế độ dân chủ.

Tại tâm chấn Thái Lan, nó đã gián tiếp hình thành nên quyền lực tuyệt đối của nhà tỉ phú Thaksin Shinawatra và mang đến một kỷ nguyên chính trị mới tại Thái Lan với đầy những rắc rối và xung đột chưa có lời kết.

Malaysia cũng không tránh khỏi những dư chấn từ cuộc khủng hoảng này, với vụ bê bối liên quan đến cựu Thủ tướng Anwar Ibrahim.
 

Vậy điều gì sẽ xảy ra với cuộc khủng hoảng hiện nay. Liệu làn sóng suy thoái kinh tế toàn cầu có thay đổi động lực phát triển và kinh tế chính trị tại khu vực? Liệu nó có phải là dấu kết cho mô hình phát triển Đông Á, hay ít nhất là mang tới những thay đổi lớn? Và điều gì đang đón đợi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, hay ASEAN?

Cả ba câu hỏi trên đều cần được giải thích thấu đáo.

Trước hết, thuộc tính đa dạng của Châu Á đã bất chấp mọi lý thuyết về khái quát hoá. Cả 10 quốc gia thành viên của ASEAN đều mang những sự khác biệt rất lớn về cấu trúc chính trị, kinh tế, về mức độ phát triển và thể chế. Sự kỳ diệu của phát triển kinh tế tại Singapore chưa chắc đã áp dụng được cho Myanmar hay Việt Nam.

Thứ hai, nguồn cơn của cuộc suy thoái hiện nay hoàn toàn khác biệt so với hồi thập niên 1990. Cuộc khủng hoảng hiện thời bắt đầu tại các thị trường địa ốc và tài chính của những nền kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ và Anh bởi nó được xây trên nền tảng của những sự mất cân bằng khổng lồ trên toàn cầu. Trong khi đó, cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn tại Đông Nam Á gây ra bởi các nhân tố địa phương và quốc tế.

Thứ ba, những tài liệu phân tích khủng hoảng và các hệ luỵ của nó không tương đồng. Một trường phái xem chúng như một cơ hội, thúc đẩy sự thay thế các thể chế cũ kỹ, tạo cơ hội cải tổ cho những chính phủ còn rụt rè và quá cứng nhắc. Trường phái khác lại cho rằng các cuộc khủng hoảng có thể làm tê liệt các chính phủ, đặc biệt nếu như lộn xộn kinh tế lại đi kèm với xáo động và bất ổn chính trị.

Lắp ghép những mảnh rời

Khủng hoảng kinh tế châu Á: Thách thức Chính sách Xã hội (Ảnh: ilo.org)

Chúng ta mới chỉ ở giai đoạn đầu để lắp ghép các mảnh rời rạc từ câu chuyện về tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, nhất là khi thiếu hụt những dữ kiện nhanh và chính xác từ nhiều quốc gia, cũng như chưa thể chắc chắn được liệu sẽ có thêm những quả bom tài chính nào sẽ nổ tại Mỹ và Châu Âu. 

Ngoài ra, một số dữ liệu được công bố gần đây quá phức tạp để có thể diễn dịch chúng cho đúng nghĩa. Ví dụ như, xuất khẩu đã giảm ở mức báo động vào tháng 1.2009 (khoảng 35% trung bình tại khu vực). Nhưng con số này có thể - nói một cách hy vọng - phản ánh sự sụt giảm về hàng tồn kho khắp thế giới hơn là báo hiệu về một xu hướng chung cho cả năm 2009.

Câu chuyện đang thay đổi nhanh và có hai lực lượng đang đối chọi nhau tại Đông Nam Á. Thành phần tiêu cực là sự mở cửa của khu vực đối với thương mại và sự tổn thương của nó đối với sụt giảm mạnh về khối lượng thương mại toàn cầu, cộng hưởng tác động trên thị trường tài chính chưa phát triển đồng đều tại khu vực. Yếu tố tích cực là, do hậu quả của các kinh nghiệm còn tươi mới từ vụ 1997-1998, các chính phủ và các nhà đầu tư tại Đông Nam Á đã trở nên cẩn trọng hơn trong một thập niên vừa qua.

Các quốc gia đã tạo ra những thặng dư tiền gửi ngân hàng; thâm hụt công khố ở mức vừa phải; các ngân hàng trở nên bảo thủ hơn; tỉ lệ lãi suất linh hoạt hơn. Chính vì vậy, các tác động của cuộc khủng hoảng tài chính từ đầu tàu Mỹ, thông qua các tổ hợp tài chính tại khu vực, đã được giảm thiểu. Dù sao một số ngân hàng rơi vào tình trạng khó khăn, như Ngân hàng Thế kỷ ở Indonesia, một số khác đang trong tình trạng không ổn định.

Nhưng sáu tháng kể từ cuộc khủng hoảng, chưa có một sự sụp đổ tài chính nào ở mức độ tương tự như ở Mỹ và Anh. Trong vài tháng tới, dù cuộc khủng hoảng sẽ còn gây ra những hiểm nguy kinh tế và thử thách xã hội, nhưng tác động của nó đến khu vực có vẻ như đã được kiềm chế.

Không dễ dàng để đoán định được những tác động “biến đổi” lớn mà nó sẽ mang lại. Các động lực chính trị xoay vần tại một số quốc gia có vẻ như đang chiếm lĩnh tình hình khu vực. Indonesia sẽ có cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội từ tháng 4 đến tháng 9.

Tại Malaysia, vấn đề nóng hổi là sự chuyển tiếp êm ả từ Thủ tướng Abdullah Badawi sang chính trị gia Najib Razak, và liệu liên minh của chính trị gia đối lập Anwar có thể tạo sự lội ngược dòng ngoạn mục để giành quyền lực từ Tổ chức Quốc gia Malays thống nhất, vốn cầm quyền tại đây suốt 51 năm qua.

Thái Lan đang được điều hành bởi một liên minh lỏng lẻo và yếu ớt. Chính trường Thái Lan còn bị bao vây bởi sự bất đồng chính trị giữa phe áo “vàng” và “áo đỏ, và nếu như cuộc tổng tuyển cử diễn ra, chắc chắn đế chế của ông Thaksin sẽ nhận được tỉ lệ ủng hộ đông đảo.

Tại Philippines, cuộc bầu cử tổng thống và tổng tuyển cử chỉ còn cách chưa đầy năm và nó đang là chủ đề chính trong các cuộc diễn thuyết chính trị khắp các tỉnh thành.

Tuy nhiên, các quốc gia Đông Dương có vẻ như miễn nhiễm với sức ép chính trị do cuộc suy thoái như các quốc gia khác trong khu vực, ngay kể cả quốc gia có nền dân chủ phương Tây như Campuchia. Hơn thế, các nền kinh tế này vẫn chú trọng vào nông nghiệp, nên ít bị ảnh hưởng bởi các sự kiện toàn cầu. Đây cũng là những nền kinh tế đã có những bước phát triển ngoạn mục trong hơn một thập niên qua.

Bốn biến số

Đó là những gì dễ nhận thấy về ngắn hạn. Trừ phi cuộc khủng hoảng này sớm qua đi (nhưng những gì diễn ra không khẳng định điều này), đâu sẽ là các thách thức đối với khu vực trong trung hạn và thậm chí sau đó? Ít nhất có bốn tác động có thể liệt kê ra.

Trước hết, các chính phủ được trông đợi phải ứng biến linh hoạt hơn trong những thời điểm khó khăn. Họ sẽ phải xây đắp được nền quản trị tốt, chú trọng hơn đến các chương trình vì mục tiêu xã hội và mang đến những tiến triển lớn trên diện rộng.

Nói một cách cụ thể, các chính phủ sẽ phải lo lắng và chú ý hơn đến các nhóm người bất mãn, các khu vực bên ngoài những thành phố vệ tinh. Vấn đề này đang biểu lộ dưới nhiều sắc thái khác nhau trên hầu khắp khu vực.  

Các chính phủ sẽ phải lo lắng và chú ý hơn đến các nhóm người bất mãn, các khu vực bên ngoài những thành phố vệ tinh. (Ảnh: ricewisdom.org)

Ví dụ như ở Thái Lan, nhãn quan chính trị và các dự án đầu tư lớn đã giúp ông Thaksin giành được sự ủng hộ lớn của những người dân nghèo tại khu vực bắc và đông bắc. 

Tại Malaysia, tầng lớp dân nghèo của các cộng đồng Ấn luôn mang mặc cảm bị bỏ rơi, đặc biệt trong những người thuộc vào 20% lực lượng bị sa thải. Ngoài ra, còn có rất nhiều lời phàn nàn từ thành viên “phi liên kết” trong cộng đồng bumiputera (được ưu ái trong xã hội Malaysia) - những người vốn chỉ được hưởng lợi rất ít từ chương trình hành động kích thích kinh tế 38 năm qua của chính phủ.
 

Tại Philippines, sự bất mãn bộc lộ rõ ở những khu vực hẻo lánh, nhất là tại khu vực xung đột kéo dài Mindanao. Tỉ lệ thất nghiệp gia tăng cùng với hệ thống trường tiểu học công chất lượng thấp cũng là lo ngại lớn.

Tại Campuchia, tình trạng căng thẳng đang dồn ứ trong những cộng đồng dân cư bị lấy đất đai, cùng với sự bất bình đẳng gia tăng nhất là giữa thủ đô Phnom Penh và phần lớn khu vực nông thôn còn lại.

Tại Indonesia, thất nghiệp là một vấn đề lớn, đặc biệt là trong số những thanh niên trẻ tuổi có học vấn thành thị. Những khu vực tụt hậu đằng sau sự phát triển kinh tế, chủ yếu là miền đông, cũng là mối lo ngại.

Tại Lào và Việt Nam, các cộng đồng sắc tộc thiểu số tại các khu vực hẻo lánh cũng chưa được hưởng nhiều các lợi ích từ phát triển kinh tế.

Quốc đảo Singapore, số phận của những công dân cao tuổi ít được học hành đang thu hút sự quan tâm.

Những thách thức phát triển của khu vực, trên thực tế, phức tạp và cao hơn rất nhiều so với những gì được liệt kê. Nhưng danh sách trên ít nhất có thể được xem như một sự minh hoạ. Tại những thời điểm tốt, cùng với sự phát triển kinh tế, những vết nứt này có thể sẽ được nhắm mắt bỏ qua.

Đối với những nhà kỹ trị, tỉ lệ Gini (thước đo cho sự bất bình đẳng) có thể gia tăng, như đang diễn ra tại phần lớn khu vực, nhưng tỉ lệ phát triển cao vẫn được xem như sự đảm bảo rằng tỉ lệ dân số sống trong nghèo đói duy trì xu hướng giảm.

Bốn biến số trên với khu vực Đông Nam Á cho tới nay vẫn chưa rõ rệt. Chưa có một ý kiến nào tại Đông Nam Á tỏ ra trì chiết và quy làn sóng suy thoái kinh tế hiện nay cho Chính phủ đương nhiệm. Tất nhiên, có những chỉ trích về cách thức, độ nhanh nhậy mà các chính phủ Đông Nam Á đã phản ứng.
 
Ít nhất, điều cần thiết là tạo ra được những chương trình ổn định xã hội để làm giảm bớt đi các sức ép do khủng hoảng kinh tế gây ra. Dù không mong đợi, nhưng Indonesia đã là một trong những quốc gia hiệu quả nhất về nhân tố trên, với các chương trình công việc đại chúng, gạo rẻ, chuyển tiền.

Tác động hỗn tạp từ khủng hoảng

Làn sóng khủng hoảng có thể đem lại những tác động hỗn tạp cho châu Á
(Ảnh: Virtualtourist.)

Khi tăng trưởng biến mất, trò chơi phát triển bằng 0 (hoặc thậm chí ở mức âm) diễn ra, các nền chính trị phân bổ sẽ trở nên quan trọng và các chính phủ dường sẽ bị định đoán khắc nghiệt vì những thiếu sót của họ. Nhưng liệu những căng thẳng này có dẫn đến sự thay đổi thể chế, như nó đã từng diễn ra năm 1997-1998?

Như đã nói ở trên, những làn sóng khủng hoảng có thể đem lại những tác động hỗn tạp. Những thể chế hợp pháp và nhận được sự ủng hộ rộng rãi sẽ không chịu nhiều sức ép từ khủng hoảng, thậm chí khủng hoảng còn hỗ trợ cho chính quyền. Vào những thời điểm có biến đổi lớn, cử tri có xu hướng không thích mạo hiểm và sẽ bỏ phiếu thuận theo chính phủ mà họ đã quen.
 

Dự đoán trước về thay đổi chế độ là một phương pháp mạo hiểm. Hai quốc gia Đông Nam Á đang bị tổn thương nhất trong làn sóng suy thoái hiện nay là Malaysia và Thái Lan. Điều đáng ngạc nhiên là, đây là hai quốc gia thịnh vượng hơn so với những thành viên khác trong khu vực sau hàng thập kỷ phát triển thành công từ 1950. Họ cũng có thể chế chính trị khác biệt khi Malaysia có một đảng cầm quyền liên tục 51 năm qua từ khi độc lập, còn Thái Lan có một liên minh cầm quyền mong manh.

Về mặt chính trị, cả hai đều đã xử lý cuộc khủng hoảng 1997-1998 rất hiệu quả theo những cách khác nhau. Tuy nhiên, vẫn có những nhóm người không hài lòng tại cả hai quốc gia này. Chẳng hạn như nếu các gói giải cứu kinh tế lai chỉ nhằm vào những tập đoàn con cưng, hoặc các chương trình xã hội không được quản lý tốt, các chính phủ đó có thể sụp đổ.

Thêm vào đó, trong cả hai trường hợp, các nhân tố hoặc phong trào đối lập luôn sẵn sàng nắm giữ quyền lực, nếu khủng hoảng trao cho họ cơ hội.

Phần tiếp theo: Sự sụp đổ mô hình Đông Á, con dao hai lưỡi của nền kinh tế mở và nhu cầu thay đổi trật tự toàn cầu 

* Tác giả bài viết là Hal Hill - Giáo sư Kinh tế Đông Nam Á của trường Đại học Quốc gia Australia ở Canberra

  • Mỹ An (dịch từ Far Estern Economic Review, Tháng 4/2009)
* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu