Hoạch định ranh giới biển giữa VN và TQ (kỳ 1)

Tuần Việt Nam trích đăng cuốn “Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của luật biển ở VN”. Nội dung trích đăng tập trung vào ba phần chính: Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ, Hiệp định nghề cá, và khu vực thềm lục địa Tư Chính của Việt Nam. sự kiện nóng

Tên sách: GIỚI THIỆU MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LUẬT BIỂN Ở VIỆT NAM
Tác giả: tập thể tác giả
Phát hành: Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới, NXB Chính trị Quốc gia, 2004

* * *

KẾT QUẢ PHÂN ĐỊNH VÀ NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH PHÂN ĐỊNH VỊNH BẮC BỘ

1. Các nội dung và yếu tố liên quan đến phân định

a) Các nội dung phân định

  • Phân định lãnh hải của hai nước;
  • Phân định vùng đặc quyền kinh tế;
  • Phân định thềm lục địa.

b) Các yếu tố liên quan

- Quyết tâm chính trị của hai nước giải quyết vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ: Nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước là giải quyết xong vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000 (thỏa thuận trong các chuyến đi thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đỗ Mười năm 1997 và Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu năm 1999).

- Vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ, dù thỏa thuận như thế nào cũng phải bảo đảm nguyên tắc công bằng, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển năm 1982.

- Điều kiện cụ thể và hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ, trong đó chủ yếu là điều kiện địa lý tự nhiên.

- Các lợi ích thực chất gắn với nội dung phân định như: diện tích vùng biển phân định được hưởng (hoặc vấn đề lãnh thổ đảo, nếu có); quyền chủ quyền đối với tài nguyên dầu khí, hải sản; chế độ đi lại trên biển và sông biên giới.

- Đồng thời, giải pháp phân định cần đạt được trên cơ sở thông cảm nhân nhượng lẫn nhau, công bằng và hợp tình, hợp lý.

c) Quan điểm và lập trường chính của mỗi bên

Trong quá trình đàm phán, hai bên tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản như sau:

Bài cùng chủ đề:
Lãnh hải VN, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 4)
Lãnh hải VN, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 3)
Lãnh hải Việt Nam, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 2)
Lãnh hải VN, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 1)
* Về tỷ lệ phân chia diện tích tổng thể vịnh Bắc Bộ:

- Quan điểm cơ bản của phía Trung Quốc là, do điều kiện “địa lý chính trị” của vịnh Bắc Bộ giữa hai nước là đại để đối đẳng nên kết quả phân chia diện tích vịnh giữa hai nước phải “đại thể bằng nhau”, phía Việt Nam có thể hơn một ít nhưng chênh lệch không nhiều. “Đại thể bằng nhau” chính là kết quả phân định “công bằng”.

Để bảo đảm yêu cầu này, phía Trung Quốc sử dụng phương pháp phân định tổng hợp, trong đó có chỗ sử dụng điểm và đoạn trung tuyến bờ - bờ để thẻ hiện đường phương án phân định của mình.

- Quan điểm của Việt Nam là cần căn cứ luật pháp và thực tiễn quốc tế, hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ để phân định nhằm tìm kiếm một giải pháp công bằng. Tỷ lệ diện tích là hệ quả, không phải là tiền đề của việc phân định, công bằng không đồng nghĩa với “chia đôi”.

Ta đề nghị dùng phương pháp đường trung tuyến, là phương pháp phổ biến trong thực tiễn quốc tế, có tính đến hiệu lực của tất cả các đảo, đặc biệt là đảo Bạch Long Vĩ, có sự điều chỉnh cần thiết theo hiệu lực pháp lý và sự quan tâm của mỗi bên.

- Vùng chồng lấn ban đầu của hai bên chiếm khoảng 13% diện tích vịnh.

* Hiệu lực của đảo, trong đó có đảo Bạch Long Vĩ:

- Phía Trung Quốc không muốn các đảo Việt Nam có hiệu lực trong phân định, đảo Bạch Long Vĩ chỉ có vành đai lãnh hải 12 hải lý (vì mục đích này, họ cũng không cho các đảo của họ có hiệu lực, trừ Hải Nam được coi là lục địa).

Đối với đảo Bạch Long Vĩ, phía Trung Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam đối với đảo Bạch Long Vĩ nhưng cho rằng nếu cho đảo có hiệu lực, sẽ làm đường phân định đi lệch quá nhiều về phía Trung Quốc, dẫn đến kết quả không công bằng.

- Phía Việt Nam muốn các đảo Việt Nam có hiệu lực trong phân định. Tuy nhiên, căn cứ vào thực tiễn quốc tế, Việt Nam đề nghị đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam nhất thiết phải có hiệu lực nhất định trong phân định, việc xem xét hiệu lực của đảo phải căn cứ vào Công ước 1982 và thực tiễn quốc tế nhằm bảo đảm giải pháp phân định công bằng.

* Về đường đóng cửa vịnh:

- Căn cứ vào hiệu lực pháp lý của đảo, ta đề nghị đường đóng cửa vịnh là đường thẳng nối đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) và mũi Oanh Ca (Trung Quốc). Trên cơ sở đó, xác định điểm biên giới ở cửa vịnh.

- Phía Trung Quốc đề nghị không tính đảo Cồn Cỏ vào phạm vi vịnh mà lấy đường thẳng nối Mũi Lay (Việt Nam) với mũi Oanh Ca (Trung Quốc).

- Hai bên có sự khác nhau khoảng 13 hải lý.

(Nguồn ảnh: vtv.vn)


2. Kết quả đàm phán và nội dung Hiệp định phân định

Căn cứ vào Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982, các nguyên tắc luật pháp và thực tiễn quốc tế được công nhận rộng rãi, trên cơ sở suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc công bằng, qua thương lượng hữu nghị, hai bên đã đi đến ký kết Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước, bao gồm 11 điều khoản với các nội dung cụ thể như sau:

(1) Hai bên khẳng định các nguyên tắc chỉ đạo công tác phân định là tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình; củng cố và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước, giữ gìn sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của vịnh Bắc Bộ; thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, hiệp thương hữu nghị, giải quyết một cách công bằng hợp lý.

(2) Hai bên xác định phạm vi phân định vịnh Bắc Bộ:

- Trong Hiệp định này, vịnh Bắc Bộ là vịnh nửa kín được bao bọc ở phía bắc là bờ biển lãnh thổ đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía đông là bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía tây là bờ biển đất liền Việt Nam, và giới hạn phía nam là đoạn đường thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca, đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 18 độ 30 phút 19 giây Bắc, kinh tuyến 108 độ 41 phút 17 giây Đông, qua đảo Cồn Cỏ đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 16 độ 57 phút 40 giây Bắc và kinh tuyến 107 độ 08 phút 42 giây Đông.

- Đường đóng cửa sông Bắc Luân là đường nối hai điểm nhô ra nhất của cửa sông tự nhiên trên bờ sông hai nước, tại ngấn nước triều thấp nhất;

- Qua đàm phán, phía Trung Quốc đồng ý với đề nghị của ta là đường đóng cửa vịnh ở phía nam là đường thẳng nối mũi Oanh Ca (Trung Quốc) qua đảo Cồn Cỏ và cắt thẳng vào một điểm trên bờ biển Việt Nam.

(3) Xác định đường biên giới lãnh hải và ranh giới đơn nhất cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ:

- Hai bên đồng ý xác định đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ bằng 21 điểm có tọa độ địa lý xác định, nối tuần tự với nhau bằng các đoạn thẳng.

- Đường phân định từ điểm số 1 đến điểm số 9 quy định tại Điều 2 của Hiệp định là biên giới lãnh hải của hai nước trong vịnh Bắc Bộ. Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới lãnh hải của hai nước phân định vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải hai nước.

- Đường phân định từ điểm số 9 đến điểm số 21 là ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ.

- Đường biên giới này đi cách đảo Bạch Long Vĩ điểm gần nhất về phía đông là 15 hải lý, dành cho đảo khoảng 25% hiệu lực. Đảo Cồn Cỏ được tính 50% hiệu lực trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Bãi Bạch Tô Nham (Trung Quốc) và các đảo Chàng Đông, Chàng Tây (Việt Nam) có hiệu lực nhất định trong phân định lãnh hải.

Theo đường phân định, phía Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích vịnh, hơn phía Trung Quốc được 46,77% diện tích. Việt Nam hơn Trung Quốc 6,46% diện tích vịnh, tức là khoảng 8.205 km2 biển. Căn cứ vào việc áp dụng nguyên tắc công bằng trong phân định và tiến hành đánh giá tính tỷ lệ giữa bờ biển của hai nước (tỷ số là 1,1:1) với tỷ lệ diện tích được hưởng (tỷ số là 1,135:1), có thể nhận thấy rằng đường phân định trong vịnh Bắc Bộ quy định trong hiệp định ký kết giữa hai nước là một kết quả công bằng, phù hợp với hoàn cảnh khác quan của vịnh Bắc Bộ và có thể chấp nhận.

(4) Về chế độ pháp lý:

Hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ được xác định theo hiệp định.

(5) Về mặt tài nguyên:

Hiệp định quy định rõ trong trường hợp có các cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên hoặc cấu tạo mỏ khác hoặc tài nguyên khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định, hai bên ký kết thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thỏa thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc khoáng sản nói trên cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác.

Hai bên cũng đồng ý tiến hành hiệp thương về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật trong vịnh Bắc Bộ cũng như hợp tác liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hai nước trong vịnh Bắc Bộ.

(6) Về cơ chế giải quyết tranh chấp:

Hai bên cam kết mọi tranh chấp giữa hai bên ký kết liên quan đến việc giải thích và thực hiện hiệp định này sẽ được giải quyết một cách hòa bình, hữu nghị thông qua thương lượng.

Việc phân định vịnh Bắc Bộ hai nước theo hiệp định này không ảnh hưởng hoặc phương hại đến lập trường của mỗi bên đối với các quy phậm luật pháp quốc tế về luật biển.

  • Tuần Việt Nam (trích đăng)

Kỳ sau: Hiệp định nghề cá và khu vực thềm lục địa Tư Chính của Việt Nam

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu