Dấu ấn Sáu Dân còn mãi với Dung Quất

(TuanVietNam) - Giờ đây đi dọc miền Trung đều cảm nhận những dấu ấn lịch sử mà cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt để lại: phía Tây với đường dây 500 KV hùng vĩ, dọc duyên hải là hệ thống cảng biển nước sâu, các khu đại công nghiệp đô thị kéo dài từ Nghi Sơn, Vũng Áng, Hòn La, Chân Mây, Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội, Văn Phong, Nam Phú Yên, Cà Ná, Nam Bình Thuận.


Mời click vào hình ảnh trên để đọc tất cả các bài viết về cố TT Võ Văn Kiệt


Từ ngày ông Sáu Dân đến thị sát Dung Quất

Ngày 23/09/1994, một ngày mùa thu đẹp trời, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đi thị sát khu vực xây dựng cảng biển nước sâu và khu công nghiệp Dung Quất, mở đầu cho một thời kỳ phát triển rực rỡ của Quảng Ngãi và miền Trung. Từ ngày ấy đến nay đã 15 năm, trải qua bao nhiêu thăng trầm, gian khổ, Dung Quất ngày nay đã trở thành một khu đại công nghiệp tầm cỡ lớn nhất của đất nước.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất thân yêu, trái tim của khu công nghiệp Dung Quất, là động lực để phát triển miền Trung đã bước vào hoạt động và tỏa ánh sáng đến khắp bốn phương trời. Trong một thời gian không dài, khu đại công nghiệp Dung Quất đã được lấp gần như kín bởi các dự án đầu tư lên dến 11 tỷ USD.

Với diện tích trên 13.000 ha, khu kinh tế Dung Quất đã trở nên chật kín, vì vậy việc mở rộng Dung Quất đã được Đảng và  Nhà nước quan tâm và bắt đầu chuẩn bị các luận cứ khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội để đưa Dung Quất bước vào thời kỳ phát triển mới theo con đường mà cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã định ra cho khu công nghiệp Dung Quất từ cuối thế kỷ trước.

Một con đường phát triển đã được hoạch định, một ý chí sắt đá không hề lay chuyển, một niềm tin son sắt ở tương lai mà ông Sáu Dân truyền cho mọi người dân Dung Quất, Quảng Ngãi và miền Trung đã trở thành một lực đẩy khổng lồ đưa mọi người lao về phía trước. Và bản thân chúng tôi cũng đang dốc hết sức lực trong nghiên cứu để đáp ứng các yêu cầu mở rộng khu kinh tế Dung Quất trong thời kỳ mới.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt thị sát Dung Quất tháng 9/1994.
Ảnh tư liệu của báo Tuổi trẻ

Thời kỳ khó khăn đã lần lượt đi qua, song mất mát to lớn, đau buồn đã ập đến quá đột ngột. Một buổi trưa mùa hè ngày 11/6/2008, trong lúc tôi đang mải phân tích các kết quả tính toán dòng chảy, sóng biển và phần nhiễu xạ sóng qua đê để lựa chọn xây dựng cảng Mỹ Hàn, một cảng biển nước sâu lớn làm điểm tựa để mở rộng khu kinh tế Dung Quất, thì điện thoại reo lên mấy hồi như giục giã. Tôi vội vã cầm ống nghe, từ đầu dây bên kia, tôi nghe rõ tiếng bạn tôi nghẹn ngào báo tin đau buồn: “Anh Sáu Dân đã mất”.

Lúc ấy tôi không tin ở tai mình, tôi hỏi lại và thấy người mình như hụt hẫng, bàng hoàng, và trống trải. Ngoài trời một cơn giông lớn ập đến, mây phủ đen nghịt đất trời, mưa như trút nước, gió xoáy từng cơn làm chao đảo cây cỏ ngoài sân cùng với cái hơi lạnh của cơn mưa mùa làm tăng thêm nỗi cô đơn.

Từ nay đâu còn những giây phút gặp anh, để nghe anh nêu lên bao nhiêu ý tưởng, bao nhiêu câu hỏi, gợi mở những mục tiêu nghiên cứu phục vụ phát triển nước nhà. Chính những gợi mở đó đã dẫn dắt các nhà khoa học đi đúng hướng với thực tiễn của đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Khi thị sát Dung Quất, anh đã nói: “Giờ đây chúng ta phải ra sức phát huy thế mạnh của vùng duyên hải miền Trung, xây dựng và phát triển kinh tế vùng duyên hải vững mạnh để làm tiền đề cho công cuộc xây dựng và phát triển Tây Nguyên”. Sự chỉ dẫn đó đã và đang trở thành một nguyên lý phát triển và hiện thực đối với miền Trung và Tây Nguyên.

Miền Trung thân yêu chịu nhiều hy sinh mất mát trong chiến tranh, đã được Đảng và Chính phủ hết lòng chăm sóc. Từ trong đêm trường tăm tối, nghèo khổ, ngày nay con đường đi lên của miền Trung để theo kịp hai đầu đất nước đã bắt đầu lộ diện, đó là con đường đại công nghiệp mà trong đó vai trò quyết định của năng lượng, sắt thép, vật liệu xây dựng, chế tạo máy công cụ, đóng tàu… và kéo theo các ngành công nghiệp phụ trợ, tài chính, ngân hàng…

Một ngày không xa miền Trung sẽ trở thành cái xương sống thép của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sẽ đóng vai trò đưa nền kinh tế Việt Nam vào thế phát triển ổn định và cất cánh trong thế kỷ XXI.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Ảnh : TTXVN

Về lại nơi cũ nhớ người xưa

Mùa thu 2008 tôi có dịp được trở lại thăm khu kinh tế Dung Quất và nhà máy lọc dầu số 1. Kể từ ngày chúng tôi bắt đầu nghiên cứu 12 cửa biển miền Trung (1992) để tìm ra Dung Quất, Chân Mây và Nhơn Hội đến bây giờ là 16 năm, đó là một thời gian quá ngắn ngủi đối với sự phát triển của một vùng đất mà từ khi Lê Thánh Tôn mở cõi đến bây giờ là 600 năm. Với lựa chọn và quyết định đúng đắn, sáng suốt và bản lĩnh của mình, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đưa Dung Quất và miền Trung đến những thay đổi hết sức lớn lao chưa từng có trong lịch sử của vùng đất này.

Đến thăm nhà máy lọc dầu, nhà máy đóng tàu và khu công nghiệp, bản thân tôi thấy ngỡ ngàng vì sự biến đổi quá lớn lao mặc dù tôi là người giàu khát vọng, giàu trí tưởng tượng và đã làm việc tại các đại công trình ở nước ngoài. Đứng trước nhà máy lọc dầu Dung Quất, tôi mừng vui khôn xiết, song không sao tránh được nỗi buồn trào dâng trong lòng khi nhớ đến ngày nào tôi theo bước chân anh Sáu đi khắp vịnh Dung Quất, khu đô thị Vạn Tường.

Anh đã để lại cho con cháu một cơ đồ vĩ đại, một sự nghiệp trăm năm, ôi con cháu biết gì hơn là chúc phúc cho anh để anh linh của con người làm nên lịch sử vùng đất này sẽ quay về hội ngộ, ngàn năm sau con cháu đất này vẫn nhớ ơn Anh.

Thu này bỗng vắng bóng Anh
Trời cao mây tạnh biển xanh lặng thầm
Để đời sự nghiệp trăm năm
Cháu con chúc phúc ngàn năm quay về

Tôi luôn nhớ đến lời tâm sự của anh Sáu lúc làm việc, anh nói: “Bây giờ chúng ta làm gì cũng phải luôn nhớ đến của để dành cho con cháu mai sau, đừng đem ra khai thác sử dụng hết để cho các thế hệ mai sau không còn gì, có việc bây giờ chúng ta chưa làm được nhưng mai sau con cháu sẽ đủ sức làm”. Nói đến bất cứ công việc gì, anh đều có một cách nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương lai, và kèm theo là sự phân tích và biện pháp thực hiện cụ thể. Việc ra quyết định về nhà máy lọc dầu, quyết định về khu công nghiệp Dung Quất và quyết định hình thành vùng trọng điểm kinh tế miền Trung là những minh chứng sống động.

Trời mùa thu tháng 8, những cơn mưa mùa hạ làm cho không khí công trường nhà máy lọc dầu trở nên mát dịu, tôi dừng chân cạnh tháp chưng cất dầu, chợt thấy một tốp thợ hàn vừa chuyển ca từ trên tháp xuống, tôi bước đến chào và hỏi thăm tìm hiểu công việc. Bắt tay tôi là một anh thợ hàn tuổi đã lớn, tôi tỏ ý vui mừng vì công trình vĩ đại mà các anh đang xây dựng đã sắp đến ngày thành hiện thực dẫu phải trải qua bao nhiêu thăng trầm mà ông Sáu Dân đã vững tay lái đưa nó đến bến bờ như ngày nay.

Nghe nhắc đến cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nét mặt anh thợ hàn trở nên đăm chiêu, đầu hơi cúi xuống, cố nén xúc động, anh nói khẽ: “Trời đất sao lại không công bằng, những người như ông Kiệt sao lại ra đi sớm quá, không ở lại thêm cho dân được nhờ. Hôm nghe tin ông ra đi, lúc đó tôi đang hàn ở tầng cao, nơi đầu đụng với mây trời và dưới chân toàn là sắt thép. Tôi đặt mỏ hàn xuống sàn, ánh lửa hàn vụt tắt, tôi lấy mũ bảo hiểm cầm tay và cúi đầu quay về hướng Nam trong giây phút để vĩnh biệt ông”.

Rồi người thợ hàn chậm rãi nói tiếp: “Nếu như ngày xưa cha tôi đã từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, trận đánh lớn nhất của lịch sử, đem lại độc lập tự do của nước nhà, gia đình tôi được chia ruộng đất và cuộc đời địa tô đã đi qua, thì ngày nay nhờ công cuộc đổi mới của đất nước mà bác Sáu Dân là hiện thân, tôi được đứng trên tầng cao của công trình nhà máy lọc dầu, một công trình lớn nhất đất nước để hàn gắn các kết cấu của nhà máy cũng như hàn gắn đất nước sau bao năm chiến tranh. Nhờ công cuộc đổi mới của nước nhà, nhờ nhà máy lọc dầu mà tôi có công ăn việc làm, gia đình tôi được no ấm, con cái tôi được học hành. Nhìn thấy nhà máy, nhìn thấy cảnh nhà no đủ, tôi cứ nghĩ nó như một giấc mơ tiên”.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt theo dõi tình hình triển khai dự án cảng nước sâu Dung Quất. Ảnh tư liệu của báo Tuổi trẻ

Biết tôi là tác giả công trình nghiên cứu cảng biển nước sâu và khu công nghiệp Dung Quất, anh thợ hàn tỏ lòng biết ơn. Song tôi đã nói lại, cho tôi xin được biết ơn bác Sáu Dân với tầm nhìn xa thẳm và trí tuệ đã quyết định chọn Dung Quất làm khu đại công nghiệp và địa điểm xây dựng nhà máy lọc dầu. Tôi xin được biết ơn anh và hàng ngàn người đang xây dựng trên công trường Dung Quất, nhờ đó mà các thành quả nghiên cứu khoa học của chúng tôi mới được biến thành hiện thực.

Phút chia tay thật cảm động, tôi ôm chầm lấy anh trong bộ quần áo xanh còn bám đầy bụi khói của sắt thép và xỉ hàn, trong không khí mát dịu sau cơn mưa để ngày mai trở về thành phố Hồ Chí Minh với bao nhiêu công việc bận rộn trong nghiên cứu tính toán đang chờ.

Tri ân biết bao nhiêu cho đủ

Mùa xuân 2009 tôi có dịp trở lại Dung Quất để dự lễ đón dòng dầu đầu tiên của nhà máy lọc dầu Dung Quất và dự buổi lễ đặt tên đường Võ Văn Kiệt ngày 22/02/2009. Ngay bên tấm bảng mang tên đường Võ Văn Kiệt, đài truyền hình đã phỏng vấn tôi: “Lúc ra đi, đồng chí Võ Văn Kiệt có dặn lại không nên đặt tên đường, không xây tượng đài, xây nhà lưu niệm cho ông, vậy anh nghĩ gì khi hôm nay nhân dân Quảng Ngãi đã đặt tên đường Võ Văn Kiệt, đoạn đường kéo dài từ thành phố Vạn Tường đến cảng Dung Quất?”

Thật xúc động và tuyệt vời khi nhân dân Quảng Ngãi thực hiện quyền được biết ơn của mình đối với tiền nhân đã đem lại cho họ cuộc đổi đời, đem no ấm hạnh phúc như ngày nay bằng việc đặt tên con đường no ấm này theo tên ông, tôi thầm nghĩ. Vì thế, tôi dõng dạc trả lời: “Việc làm này đúng với đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam và nó mang ý nghĩa của  một giá trị vĩnh hằng”.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi Phạm Đình Khối và giáo sư Phan Lương Cầm - phu nhân cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - thực hiện nghi thức đặt tên đường Võ Văn Kiệt cho tuyến đường Bình Long, tuyến QL1A đến cảng Dung Quất. Ảnh: quangngaionline

Trả lời phỏng vấn xong, tôi đang chuẩn bị ra về thì một cụ già đứng bên cạnh tôi tự bao giờ nắm lấy tay tôi tâm sự. Ông cho biết cách đây 40 năm, thời đó ông là một chiến sĩ giải phóng tham gia trận Vạn Tường. Sau trận mạc, nước nhà độc lập, ông quay về quê hương Bình Hải bên bờ vịnh Nho Na sống cuộc đời thanh thản của một nhà nông. Ông nói việc đặt tên đường Võ Văn Kiệt làm ông vô cùng xúc động và vui mừng. Nhưng giá như cái ngày này khoan hãy đến để ông Kiệt còn ở lại, để người dân chúng tôi còn được nhờ.

Ông đọc tiếp mấy câu thơ tôi viết mà ông thuộc từ lâu:

Đất nước mai này nhớ ơn Anh
Quyết định Anh ra – Nghĩa sinh thành
Đổi đời Dung Quất thành công chúa
Sỏi đá Bình Sơn trỗi sắc hương

Ông nói tiếp: “Đêm đêm ngồi bên bàn uống chén trà hoặc đu đưa trên chiếc võng, tôi lại ngâm nga mấy câu thơ trên để nhớ đến ông Kiệt, con người đã đưa vùng đất mà vua Lê Thánh Tông đã mở cõi từ 600 năm trước đến buổi bình minh huy hoàng ngày nay”.

  • TS. Trương Đình Hiển

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu