Đằng sau nghiên cứu kinh ngạc của TS. Nguyễn Chánh Khê

Trong một số bài báo gần đây viết về TS. Nguyễn Chánh Khê và những đề tài nghiên cứu của ông có mang những thông tin sai lệch so với tình hình phát triển khoa học công nghệ trong nước cũng như trên thế giới. Phải chăng có một sự nhầm lẫn đáng tiếc ở đây? sự kiện nóng

Cấu trúc của ống nano cácbon.
Đâu là sự thực?

Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê là một trí thức người Việt sống ở nước ngoài về quê hương góp phần xây dựng tổ quốc. Ông không xa lạ với các nhà khoa học trên thế giới, đã từng làm việc tại Nhật, Mỹ nhiều năm. Vào năm 2002 ông hồi hương về nước và làm Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát triển thuộc Khu công nghệ cao TP.HCM. Suốt bốn năm qua, TS Nguyễn Chánh Khê đã có nhiều đóng góp cho nền khoa học nước nhà.

Tuy nhiên trong một số bài báo gần đây viết về TS. Nguyễn Chánh Khê và những đề tài nghiên cứu của ông có mang những thông tin sai lệch so với tình hình phát triển khoa học công nghệ trong nước cũng như trên thế giới. Phải chăng có một sự nhầm lẫn đáng tiếc ở đây?

Trong bài báo “VN xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao” do báo “Người lao động” đưa ngày 30-04-2007 trên địa chỉ http://www.nld.com.vn/tintuc/khoa-hoc/187697.asp có đoạn: “Ngày 1-6-2006, Trung tâm R&D khiến thế giới phải ngạc nhiên khi lần đầu tiên điều chế thành công carbon nano tube hoàn toàn bằng nguyên liệu và công nghệ trong nước.

Với tính chất nhẹ, cứng, siêu bền, siêu dẫn điện, chất này được ứng dụng để làm vỏ phi thuyền vũ trụ, vũ khí chống khủng bố, vi mạch điện tử... Carbon nano tube được coi là vật liệu trung tâm của thế kỷ.” Nhưng trên thực tế Trung tâm R&D không phải là cơ sở duy nhất và cũng không phải là cơ sở đầu tiên chế tạo thành công carbon nano tubes ở Việt Nam.

Carbon nano tubes (viết tắt CNTs) có tên tiếng Việt là ống nanô cácbon, đây là vật liệu mới của ngành công nghệ nanô, nó được chế tạo lần đầu tiên bởi nhà khoa học người Nhật Bản tiến sỹ Ijima vào năm 1991. Ống nano cácbon được tạo bởi các nguyên tử cácbon với cấu trúc dạng ống và kích thước từ một vài nm đến khoảng 100 nm (nm bằng một phần tỉ của mét). Ống nano cácbon có nhiều tính chất đặc biệt như: nhẹ, siêu cứng, siêu bền, khả năng dẫn điện và dẫn nhiệt tốt.

Hình ảnh cấu trúc ống nano cácbon

(tham khảo từ http://students.chem.tue.nl/ifp03/images/mwnt.gif )

Ở Việt Nam từ lâu các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vật liệu mới có cấu trúc nanô, trong đó có nghiên cứu chế tạo ống nanô cácbon. Cơ sở đầu tiên chế tạo thành công ống nanô cácbon ở Việt Nam là viện Khoa học Vật liệu (IMS) thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST). Việc nghiên cứu chế tạo ống nanô cácbon được tiến hành rất sớm vào năm 2002 và cũng đã chế tạo thành công ngay trong năm 2002 tại IMS với trang thiết bị và nguyên liệu hoàn toàn từ trong nước.

Trung tâm ITIMS (thuộc Đại Học Bách Khoa Hà Nội) là cơ sở thứ hai tại Việt Nam chế tạo thành công CNTs vào năm 2003, tiếp theo đó là Viện Vật lý Kỹ thuật (Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội) vào khoảng cuối năm 2004, đầu năm 2005. Việc chế tạo thành công ống nanô cácbon từ nhiều năm nay của Viện Khoa học Vật liệu, trung tâm ITIMS cũng như Viện Vật lý Kỹ thuật đã được khẳng định qua nhiều bài báo, báo cáo khoa học tại các hội nghị khoa học trong nước cũng như quốc tế.

Nghiên cứu chế tạo CNTs với số lượng lớn, chất lượng tốt hơn đã trở thành mục tiêu của nhiều khoá luận tốt nghiệp và nhiều luận văn cao học của sinh viên, học viên cao học ở trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Đại Học Công Nghệ (thuộc ĐHQGHN), Đại Học Khoa Học Tự Nhiên (thuộc ĐHQGHN),…

Như vậy sau Viện Khoa học Vật liệu, trung tâm ITIMS, Viện Vật lý Kỹ thuật thì Trung tâm R&D là cơ sở thứ tư ở Việt Nam chế tạo thành công CNTs vào năm 2006. Hiện nay phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về Vật liệu & Linh kiện điện tử - Viện khoa học Vật liệu (thuộc Viện khoa học Công nghệ Việt Nam) cũng đang xúc tiến sản xuất CNTs với số lượng lớn và tiến tới thương mại hóa sản phẩm CNTs.

Ngoài ra bài báo còn đưa thông tin “Hiện chỉ có Mỹ, Nhật và một số nước châu Âu mới sản xuất được sản phẩm này nhưng với số lượng rất khiêm tốn. Riêng Mỹ chỉ sản xuất được khoảng 10 kg/năm.” Nhưng trên thực tế ống nanô cácbon đã được sản xuất với số lượng rất lớn ở nhiều nơi trên thế giới, không chỉ có Mỹ, Nhật, và các nước Châu Âu mà ở châu Á các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, … cũng đã sản xuất được CNTs từ lâu với số lượng lớn.

Riêng hãng SUNNANO của Trung Quốc có thể sản xuất được 10 kg ống nanô cácbon mỗi ngày, tức là một năm hãng có thể sản xuất hơn 3 tấn, độc giả có thể kiểm tra trên website của hãng: http://www.sunnano.com/news.htm, chưa kể rất nhiều hãng khác trên thế giới cũng sản xuất CNTs, như vậy hàng năm toàn thế giới sản xuất được rất nhiều tấn CNTs.

Trong bài báo “NASA dùng carbon nano tube của VN làm vỏ phi thuyền” đăng ngày 31-05-2007 trên báo “Người lao động” tại địa chỉ http://www.nld.com.vn/tintuc/khoa-hoc/190933.asp cũng đưa tin “Hiện nay, theo giá thành thế giới, 1 kg carbon nano tube có thể được bán với giá từ 100.000 – 800.000 USD.” Ống nano cácbon có rất nhiều loại khác nhau, và giá cả không thuộc khoảng 100.000 – 800.000 USD/kg như nêu ở trên.

Hãng SUNNANO của Trung Quốc bán lẻ CNTs với giá 2 USD/gram, khi bán trên 0,5 kg thì giá cả chỉ còn 1 USD/gram hay 1000 USD/kg, bạn có thể tham khảo trên trang web: http://www.sunnano.com/prices.htm. Ngoài ra chúng ta có thể tham khảo giá CNTs của hãng Cheap Tubes chuyên sản xuất CNTs tại Mỹ ở địa chỉ web: http://www.cheaptubesinc.com/pricelist.htm. Trong bảng giá của Cheap Tubes loại CNTs rẻ nhất có giá 800 USD/1kg, còn loại CNTs tốt nhất là loại ống đơn tường (SWNTs) với độ sạch >90% thì giá cũng chỉ 50.000 USD/1kg, như vậy giá CNTs của Cheap Tubes dao động từ 800 USD - 50.000 USD/kg, lệch nhiều so với con số 100.000-800.000 USD/kg mà bài báo trên đưa ra.

Những thông tin sai lệch như trên có thể đưa ra cho chúng ta một số câu hỏi như sau:

1. Những thông tin sai lệch này là do thiếu cập nhật những thông tin về tình hình phát triển khoa học công nghệ trong nước và thế giới hay đây chỉ là một sự nhầm lẫn ngẫu nhiên?

2. Những thông tin sai lệch là lỗi do nhà báo hay do TS. Nguyễn Chánh Khê đưa ra? Và nếu là lỗi do nhà báo thì không biết nhà báo đó lấy thông tin này từ đâu?

3. Có hay không việc cố tình đưa những thông tin sai lệch này để hướng tới một mục đích nào đó?

4. Qua đây chúng ta có suy nghĩ gì về tính chính xác của các bài báo viết về khoa học công nghệ? Cần phải có những giải pháp ra sao để những bài báo về khoa học công nghệ được chính xác hơn?

5. Sẽ ra sao nếu như các nhà khoa học Việt Nam không lên tiếng về những thông tin sai lệch này?

6. Và chúng ta cũng hoàn toàn có thể đặt ra câu hỏi: Liệu sự hợp tác giữa trung tâm R&D với NASA có phải là sự thực, hay đây chỉ là “lời nói” giữa R&D với một công ty con của NASA mà chưa có ký kết cụ thể nào?

7. Với những thông tin này, liệu ngân sách nhà nước đầu tư vào khoa học công nghệ trên cả nước có bị trệch hướng hay không?

Bạn đọc: Việt Hùng (Viện khoa học Việt Nam)

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu