Đăng ký thềm lục địa mở rộng trước 13/05/2009

(TuanVietNam) - Việt Nam phê chuẩn UNCLOS ngày 25/07/1994 cho nên trên nguyên tắc Việt Nam phải đăng ký yêu sách về thềm lục địa mở rộng với Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa trước ngày 13/05/2009. Nếu lỡ thời hạn này, Việt Nam sẽ không có quyền khai thác thềm lục địa mở rộng của mình. sự kiện nóng

Theo Công ước LHQ về Luật Biển 1982[1] (UNCLOS) mỗi nước ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa là 200 hải lý[2] tính từ đường cơ sở[3] của nước đó. Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ven biển có đặc quyền khai thác kinh tế đối với biển và đáy biển[4].

UNCLOS cũng quy định là nếu thềm lục địa[5] của nước ven biển kéo dài ra xa hơn 200 hải lý thì nước đó có đặc quyền khai thác tài nguyên dưới đáy biển trong một vùng bên ngoài 200 hải lý[6] gọi là thềm lục địa mở rộng (Extended Continental Shelf - ECS).

Hình SEQ Hình \* ARABIC 1: Các vùng biển được quy định trong UNCLOS. Baselines là đường cơ sở. Territorial Sea là lãnh hải. Contiguous Zone là vùng tiếp giáp. Exclusive Economic Zone là vùng đặc quyền kinh tế. High Seas là biển cả hay biển quốc tế[7]. (Click vào bản đồ để xem hình lớn hơn)

Quy định về thềm lục địa mở rộng

Theo UNCLOS, thềm lục địa mở rộng của nước ven biển không được ra xa hơn bất cứ “đường công thức” hay “đường giới hạn” quy định như sau:

  1. Đường công thức: Nước ven biển có thể kết hợp 2 đường sau để vạch đường công thức sao cho có lợi nhất cho mình:
    1. Đường Hedberg: Đường nối các điểm cách chân dốc thềm lục địa không quá 60 hải lý[8].
    2. Đường Gardiner: Đường nối các điểm nơi đá trầm tích dày hơn 1% khoảng cách tới chân dốc thềm lục địa[9].
  2. Đường giới hạn: Nước ven biển có thể kết hợp 2 đường sau để vạch đường giới hạn sao cho có lợi nhất cho mình:
    1. Đường cách đường cơ sở 350 hải lý[10].
    2. Đường cách đường đẳng sâu 2500 m (là đường nối liền các điểm có độ sâu 2500 m) 100 hải lý[11].

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 1:
Minh hoạ quy định về ranh giới thềm lục địa mở rộng
[12].


UNCLOS quy định là nước ven biển phải đăng ký yêu sách về phạm vi của thềm lục địa mở rộng với Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (Commission on the Limits of the Continental Shelf
[13] - CLCS) trong vòng 10 năm kể từ khi UNCLOS bắt đầu có hiệu lực với nước đó[14] hay từ khi Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa ban hành hướng dẫn khoa học kỹ thuật về ranh giới thềm lục địa, ngày 13/05/1999[15]. Nếu nước ven biển không đăng ký kịp thời hạn thì sẽ không có quyền khai thác vùng thềm lục địa mở rộng đó.

Sau khi nhận được hồ sơ của nước ven biển, CLCS sẽ khuyến nghị về ranh giới thềm lục địa mở rộng của nước này. Nếu nước này vạch ranh giới theo khuyến nghị đó thì ranh giới đó sẽ có tính chất ràng buộc vĩnh viễn
[16].

Đường cơ sở 1982 của Việt Nam

Cùng chủ đề:
Thận trọng khi biên soạn sách về Hoàng Sa – Trường Sa
Philippines và 2 dự luật đường cơ sở mới trên Biển Đông
Công ước LHQ về luật biển 1982: công cụ bảo vệ chủ quyền biển
Việt Nam trước chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông
Tranh chấp Biển Đông: Cần hợp tác và đúng luật quốc tế
Trong việc khuyến nghị, nếu CLCS cần xác định là thềm lục địa của nước ven biển thật sự ra cách đường cơ sở hơn 200 hải lý, hay nếu nước ven biển muốn dùng đường giới hạn 350 hải lý trong việc giới hạn thềm lục địa mở rộng, thì CLCS có thể yêu cầu nước ven biển xác định đường cơ sở của mình[17].

Trên thực tế, đường cơ sở của nước ven biển có thể không phù hợp với UNCLOS và đã bị những nước khác phản đối, thí dụ như đường cơ sở 1982 của Việt Nam và đường cơ sở 1996 của Trung Quốc. Nếu CLCS chấp nhận yêu sách về thềm lục địa mở rộng dựa trên đường giới hạn 350 hải lý tính từ đường cơ sở này thì có thể sẽ không công bằng cho những nước khác.

Ngược lại, CLCS không có thẩm quyền để nghị kiến về đường cơ sở của nước ven biển
[18]. Trong trường hợp này, CLCS có thể khuyến nghị nước ven biển về phương pháp tính đường giới hạn 350 hải lý[19], thí dụ như tính đường này từ một đường ad hoc phù hợp với quy định của UNCLOS về đường cơ sở, thay vì tính từ đường cơ sở của nước đó.

Vì vậy, Việt Nam có thể đăng ký yêu sách về thềm lục địa mở rộng mà không cần phải chỉnh sửa lại đường cơ sở 1982. Nếu yêu sách của Việt Nam có dùng đường giới hạn 350 hải lý tính từ đường cơ sở 1982 và nếu CLCS thấy cách tính đường giới hạn này không thích hợp thì họ sẽ khuyến nghị một cách tính khác.

Tranh chấp chủ quyền

Khó khăn lớn cho việc đăng ký thềm lục địa ở Biển Đông là tranh chấp đảo, biển.

CLCS không có thẩm quyền để phân xử tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ được dùng làm cơ sở để đăng ký thềm lục địa mở rộng hay tranh chấp do các vùng biển của các nước khác nhau nằm chồng lấn lên nhau[20]. Trong trường hợp tồn tại tranh chấp, các nước trong tranh chấp có thể tiến hành như sau:

  • Đăng ký toàn bộ thềm lục địa mở rộng[21], nêu rõ những vùng bị tranh chấp.
  • Chỉ đăng ký yêu sách cho phần không bị tranh chấp và sẽ đăng ký yêu sách cho phần bị tranh chấp sau, có thể sau hạn định 10 năm[22].
  • Một số nước trong tranh chấp có thể đăng ký chung phần chỉ có những nước này tranh chấp[23] và những nước này sẽ phân định phần này với nhau sau.

CLCS chỉ xét đăng ký cho vùng bị tranh chấp nếu tất cả những nước trong tranh chấp đồng thuận với việc đó[24].

Trên hai phương diện, có thể có nước cho là tất cả thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông nằm trong tình trạng tranh chấp:

  1. Ranh giới lưỡi bò của Trung Quốc bao trùm hoàn toàn vùng biển cách bờ hơn 200 hải lý. Mặc dù Trung Quốc chưa chính thức tuyên bố ý nghĩa của ranh giới lưỡi bò là gì, họ đã quy định là nếu bản đồ Trung Quốc nào không vẽ ranh giới đó thì bản đồ đó là bất hợp pháp. Trên thực tế, Trung Quốc đã từng tranh chấp các vùng Nam Côn Sơn, Tư Chính của Việt Nam[25] bên trong ranh giới lưỡi bò đó. Khả năng là Trung Quốc sẽ cho rằng tất cả thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông thuộc về Trung Quốc, và điều đó có nghĩa là tất cả thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông nằm trong tình trạng tranh chấp.
  2. Những nước đang tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bãi cạn Scarborough có thể có yêu sách là vùng đặc quyền kinh tế thuộc về những đảo này ra tới 200 hải lý, hay ra tới trung tuyến với các nước lân cận. Yêu sách đó sẽ làm cho vùng đặc quyền kinh tế thuộc về những đảo đó nằm chồng lấn lên biển cách bờ hơn 200 hải lý, gây ra tình hình tranh chấp đối với thềm lục địa mở rộng. Trên thực tế, những nước tranh chấp các đảo này chưa chính thức tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế thuộc về các đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bãi cạn Scarborough.

Nếu có vùng thềm lục địa mở rộng nào đó bị tranh chấp một cách chính thức, CLCS sẽ không xét đăng ký trừ khi các nước trong tranh chấp đăng ký chung hay đồng ý để cho CLCS xét.

Việc đăng ký với CLCS và khuyến nghị của CLCS không ảnh hưởng tới việc phân định chủ quyền giữa các nước trong tranh chấp[26].

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 2: Tất cả thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông, bên ngoài phạm vi 200 HL từ ven biển, có thể nằm trong tình trạng tranh chấp.

Phải đăng ký trước ngày 13/05/2009

Việt Nam phê chuẩn UNCLOS ngày 25/07/1994 cho nên trên nguyên tắc Việt Nam phải đăng ký yêu sách về thềm lục địa mở rộng với Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa trước ngày 13/05/2009. Nếu lỡ thời hạn này, Việt Nam sẽ không có quyền khai thác thềm lục địa mở rộng của mình.

Đối với những vùng thềm lục địa mở rộng trong Biển Đông đã chính thức bị cho là trong tình trạng tranh chấp, Việt Nam có thể đăng ký chung với những nước trong tranh chấp hay đồng ý với những nước này là để cho CLCS xét.

Đối với những tranh chấp chưa được xác định một cách chính thức, thí dụ như tranh chấp do ranh giới lưỡi bò của Trung Quốc hay do hiệu lực chưa được xác định của các đảo bị tranh chấp, Việt Nam có thể tự đăng ký hay đăng ký chung với những nước trong tranh chấp.

Ngoài ra, Việt Nam có thể yêu cầu CLCS cho phép đăng ký yêu sách của mình trong vùng tranh chấp sau ngày 13/05/2009, và yêu cầu CLCS không xét đăng ký của những nước khác trong tranh chấp trong những vùng này.

Vì việc đăng ký thềm lục địa mở rộng có ảnh hưởng lớn tới quyền lợi quốc gia, nhân dân và Nhà nước Việt Nam cần tạo mọi điều kiện để cơ quan có chức năng hoàn thành nhiệm vụ của mình trong công việc quan trọng này.

Tác giả xin cảm ơn Phạm Thu Xuân, Nguyễn Thái Linh đã góp ý cho bài viết này.

  • Dương Danh Huy (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)
____________

Ghi chú:

[1] http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/vn/tulieusuyngam/6032/index.aspx

[2] UNCLOS, Điều 57
[3] UNCLOS, Điều 5, 7, 47
[4] UNCLOS, Điều 56
[5] UNCLOS, Điều 76
[6] UNCLOS, Điều 77
[7] http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/marinezones.jpg
[8] UNCLOS, Điều 76.4.a.ii
[9] UNCLOS, Điều 76.4.a.i
[10] UNCLOS, Điều 76.5
[11] UNCLOS, Điều 76.5
[12] http://www.gisdevelopment.net/application/environment/pp/ma07110pf.htm
[13] UNCLOS, Phụ lục II
[14] UNCLOS, Phụ lục II, Điều 4
[15] Scientific and Technical Guidelines of the Commission on the Limits of the Continental Shelf (Guidelines). CLCS/11, 13/05/1999, United Nations, New York, 1999. http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/documents/Guidelines/CLCS_11.htm
[16] UNCLOS, Điều 76, Điểm 8
[17] Guidelines, 3.3.2
[18] Guidelines, 3.3.1
[19] Guidelines, 3.3.2
[20] Rules of Procedure of the Commission on the Limits of the Continental Shelf (Rules), Phụ lục I, Điều 1. CLCS/40, United Nations, New York 17/03-18/04/2008. http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/clcs_home.htm
[21] Rules, Phụ lục I
[22] Rules, Phụ lục I, Điều 3
[23] Rules, Phụ lục I Điều 4
[24] Rules, Phụ lục I, Điều 5a
[25] http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/vn/tulieusuyngam/5522/index.aspx
[26] Rules, Phụ lục I, Điều 5b
* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu