Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và "sự tích" con chim bằng

Anh Nguyễn Chí Thanh có đôi mắt nhỏ, khi anh trầm ngâm, những nếp nhăn ở đuôi mắt hằn sâu xuống. Đôi mắt lúc nào cũng hơi vẩn đỏ, hiền hậu như đôi mắt nông dân ấy lại có cái nhìn xuyên suốt sự vật tựa mắt chim bằng. sự kiện nóng

>> Miên man nhớ "cánh chim bằng" Nguyễn Chí Thanh
>> Vị đại tướng và niêu cá kho mặn

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (người đứng đầu bên trái) cùng Đại tướng Võ Nguyên GIáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng tiếp đồng chí Leophyger - Ủy viên T.Ư Đảng Cộng sản Pháp

"Sách quý hơn vàng. Còn sách báo là còn cách mạng"

Hiểu rõ hạn chế của mình là không có điều kiện học tới nơi tới chốn ở nhà trường, anh luôn tranh thủ học tập. Anh Thanh ham mê đọc sách kinh điển, sách lý luận, sách nghiên cứu kinh tế và cả các tác phẩm văn học cổ điển.

Đầu năm 1947, mặt trận Huế vỡ, các tổ chức đầu não của Trung bộ sơ tán lên chiến khu. Cơ ngơi của Xứ ủy còn lại quý nhất là một hòm thuốc tây và mấy gánh sách. Hòm thuốc mang giấu ngoài rừng, bị mất trộm, còn lại mấy gánh sách tiếng Việt và tiếng Pháp.

Mùa mưa ở rừng rất ẩm. Ban đêm anh đốt lửa sấy sách; anh ngồi bên đống lửa đọc sách tới khuya dưới ánh sáng bập bùng. Sợ anh em bảo vệ, phần lớn là nông dân, thấy sách in bằng “chữ Tây” mà bỏ đi chăng, anh dặn:

- Quý hơn vàng đấy. Còn sách báo là còn cách mạng. Hãy cố mà giữ.

Căn buồng đáng yêu nhất trong nhà anh ở Hà Nội là phòng làm việc. Đồ đạc chỉ có một bàn giấy, có lẽ từ bên cơ quan bộ đội mang sang, chân to vững chãi nhưng trông hơi thô. Mấy chiếc ghế. Một giá gỗ xếp khá nhiều sách.

Bức tường sau lưng anh buông một tấm màn bằng lụa màu mỡ gà loáng thoáng hiện lên những đường nét của một bản đồ tham mưu cỡ lớn choán hết cả mặt tường, trên có găm những lá cờ nhỏ đánh dấu vị trí đóng quân của ta, của địch trong cả nước.

Căn buồng này anh chỉ tiếp bạn thân và những cán bộ gần gũi đến làm việc. Lần nào cũng thấy trên bàn bộ Lênin toàn tập. Sách văn học thay đổi luôn, chứng tỏ anh đọc khá nhanh. Khi thì Chiến tranh và Hòa bình, Hồng lâu mộng, Nguyễn Đình Thi, Sóng gầm của Nguyên Hồng - những cuốn này mới xuất bản và đang ý kiến khen chê trái ngược. [...]

Vừa làm vừa học là phương hướng phấn đấu của anh. Cùng làm việc với anh là một nhóm cán bộ gồm những nhà nghiên cứu kinh tế, những người giảng dạy đại học, những cán bộ cơ sở ở đấy.

Kinh nghiệm cụ thể của các cán bộ làm việc ở xã sẽ bổ sung những hiểu biết đôi khi khó tránh khỏi tính chất kinh viện của các nhà trí thức, và ngược lại chất xám của những người này soi sáng cho cán bộ thành thạo việc làm ăn nhưng không phân tích, lý giải nổi thành công hay thất bại của mình.

Biết lắng nghe và thực hành dân chủ không hình thức

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (người đội mũ) trong những ngày đi vận động tổng khởi nghĩa ở Huế 1945 (ảnh tư liệu trong cuốn Địa chí Thừa Thiên - Huế). Nguồn: Tuổi trẻ
Thường anh nêu vấn đề rồi lắng nghe mọi người phát biểu, có khi kéo mấy ngày liền. Anh ít khi dễ dàng bằng lòng với một ý kiến nào, và hay “xoay” cán bộ bằng những câu hỏi trớ trêu. Tôi hiểu, đó cũng chính là lúc anh lật đi lật lại một vấn đề chưa sáng tỏ. Anh suy nghĩ và cuối cùng kết luận.

Những vấn đề lớn, có tính nguyên tắc, thì chờ xin ý kiến Bộ Chính trị Và Ban Bí thư. Nhờ quá trình làm việc tập thể, gắn liền lý luận với thực tiễn ấy, những quyết định của Trung ương do anh truyền đạt đều đúng đắn và kịp thời. Bản thân anh lớn lên rất rõ qua quá trình học tập đó .

Sự nhạy bén đối với vấn đề thuộc đời sống nông thôn hoặc dính dáng đến lợi ích của nhân dân giúp anh mau chóng có những quyết định sắc sảo. Mọi người đều biết, kết luận những vấn đề kinh tế - kỹ thuật đâu phải là chuyện dễ.

Vấn đề dùng loại bừa cỏ cải tiến một dạo từng gây tranh luận trong giới kỹ thuật và quản lý nông nghiệp. Một số người chủ trương phổ cập loại bừa nhỏ đẩy tay. Một số người khác muốn dùng cũng loại bừa đó nhưng ghép năm cái lại và cho bò kéo. Mỗi “phái” có một nhà khoa học tiếng tăm đứng đầu, và đều có một vài địa phương hậu thuẫn.

Anh Thanh lặng lẽ ngồi nghe hết người này đến người kia bảo vệ ý kiến của mình. Cuối cùng anh quyết định: dùng loại đẩy tay. Bởi lẽ hợp tác xã lấy bò đâu để kéo, cho dù loại do bò kéo có thể đạt năng suất cao hơn. Trong khi đó, xã viên thiếu việc làm. Vả chăng, đây là một công cụ cải tiến cao hơn hoặc cơ giới hoá. Mà đã là tạm thời, quá độ thì nên tránh những gì phức tạp quá.

Có thể có người cho rằng: Có gì quan trọng lắm trong quyết định dùng loại bừa này hay bừa khác? Thật ra, nó liên quan đến hàng vạn hợp tác xã và hàng chục xí nghiệp cơ khí đang chờ phương hướng để sản xuất hàng loạt, để tung về cung cấp cho các hợp tác xã phục vụ thâm canh.

Gắn liền với cuộc sống, anh thật lòng tin tưởng vào tri thức của những người lao động. Sự thực hành dân chủ của anh không bao giờ mang tính hình thức. Anh quan tâm đặc biệt vai trò làm chủ của quần chúng qua việc để cho họ, bằng cách này hay cách khác, có cơ hội tham gia đề ra các chính sách, chế độ.

Dạo hòa bình mới lập lại, giao thông còn trắc trở vì phải qua nhiều phà. Một lần đến phà Khuất (Ninh Bình), xe và người ùn lại. Trông thấy một đồng chí bộ đội mang ba lô vẻ mặt mệt nhọc, anh hỏi chuyện. Đòng chí cho biết thuộc một đơn vị ở Tây Bắc, nay về phép thăm quê trong Hà Tĩnh, và phàn nàn đường xá đi lại mất quá nhiều thời giờ.

- Tôi muốn quay trở lại đơn vị cho xong, chẳng phép thì đừng.

- Sao vậy?

Không biết mình đang nói chuyện với ai, anh bộ đội tiếp tục tuôn những lời bực bội:

- Anh tính, đơn vị cho mười lăm ngày phép, tính cả thời gian đi về. Từ Tây Bắc về đây đã mất gần một tuần. Về tới nhà hôm trước, hôm sau phải đi ngay, may ra mới kịp hạn. Đi ngay thì gia đình bà con thắc mắc. Ở lại chơi dăm ba nữa thì sẽ phạm kỷ luật vì trả phép không đúng hạn. Anh nghĩ, tôi về làm gì. Biết thế này tôi đã chẳng xin đi nghỉ phép.

Anh Thanh thân mật vỗ vai anh:

- Mình công tác ở Tổng cục chính trị, cậu cho mình xem giấy phép, mình sẽ bày cho cậu cách giải quyết.

Anh bộ đội ngạc nhiên, nhưng cũng cho xem giấy phép. Anh Thanh rút bút ghi luôn vào giấy phép: “Cho nghỉ tại địa phương mười ngày, không tính ngày đi và ngày về”, và ký tên. Anh nói tiếp:

- Mình sẽ nói rõ nơi đơn vị cậu đóng quân. Tối nay mình sẽ điện cho sư đoàn của cậu. Cậu cứ yên tâm về thăm quê. Xa nhà bao năm rồi? Điều cần nhớ là tới nhà, cậu phải xin chứng nhận của Ủy ban xã, và hết hạn mười ngày, cũng phải xin chứng thực ngày lên đường.

Lên xe, anh phàn nàn với anh em cùng đi:

- Cán bộ mình máy móc quá chừng. Hòa bình mới lặp lại, nhiều chính sách chưa được bàn và quy định. Chúng ta phải góp phần xây dựng. Tối hôm nay các đồng chí thử trao đổi xem: mỗi năm, cán bộ, bộ đội được nghỉ phép bao nhiêu ngày là vừa. Ai muốn phát biểu thế nào, tùy ý, nhưng phải có lý lẽ vững vàng. Sáng mai phản ảnh cho tôi nghe.

Cuộc họp nhỏ khá lý thú. Có người đề nghị Nhà nước cho nghỉ hẳn một tháng. Có người chỉ xin một tuần. Anh cười khà khà khi phân tích lý lẽ của anh em:

- Chú T. đề nghị một tuần, có hơi ít đấy. Còn chú N. xin những một tháng, không kể ngày đi ngày về. Chà chà, chú này nặng đầu óc nông dân, muốn về sửa sang vườn tược, làm nhà làm cửa cho vợ con chứ gì. Sau một tháng ở nhà, còn thiết gì đến cơ quan, đơn vị nữa. Nước ta mới ra khỏi chiến tranh, năng suất lao động còn thấp, không thể nghỉ quá nhiều. Dù sao, lý lẽ các đồng chí nêu lên đều đáng chú ý.

Học tập Hồ Chủ tịch là cố gắng thường xuyên của anh. Tan cuộc họp chuẩn bị mở rộng cuộc vận động “cải tiến quản ký” hợp tác xã, “cải tiến kỹ thuật”, anh kéo riêng tôi bảo:

- Để cho cuộc vận động mở đầu rôm rả, Bác Hồ sẽ ra một lời kêu gọi. Ngắn thôi nhưng đầy đủ súc tích, Bác đã cho những ý kiến chính. Anh em mình phải chuẩn bị cụ thể, để Bác đỡ mất nhiều thời giờ. Cậu về ăn cơm với mình, anh em ta cùng làm. Chúng ta so sánh để học tập. Cũng nội dung ấy, vẫn nhằm những yêu cầu ấy nhưng Bác viết thế này còn anh em ta chuẩn bị thế kia, cậu xem chúng ta dở ở những chỗ nào.

Những bài viết, bài nói của anh thường có nội dung súc tích, có màu sắc độc đáo với cái giọng khó trộn lẫn, có vẻ rất tự nhiên, bình dị. Nhưng mỗi bài đều trải qua một quá trình suy nghĩ, lao động nghiêm túc, có khi gian khổ nữa. Anh nói:

- Viết văn lý luận khó về nội dung đã đành, nhưng về hình thức cũng khó là làm sao cho có hình tượng đừng quá khô khan, để người đọc đỡ chán. Mới xem qua mấy dòng, người ta đã chán thì bao nhiêu công phu của mình trở thành công cốc. Nói chuyện càng khó hơn, nhất là nói với cán bộ. Trình độ anh em dần được nâng cao, thời đại này không phải là lúc nói bóng bẩy, văn hoa, hoặc hô hào kêu gọi chung chung.

Cái chính phải đạt là giúp cho anh em thu hoạch thêm được chút gì. Có hôm nói chuyện về, nghĩ lại, mình toát mồ hôi hột, không ăn cơm được. Dạo trong bộ đội có cuộc vận động chống chủ nghĩa cá nhân, mình đến đơn vị nào cũng nói “chống chống”. Chắt nghe phát ớn. Mình hỏi: “Cậu nghe có chán không?” Chắt đáp: “Chán chứ”. Về nông nghiệp, cậu ấy chê bài mình phát biểu với tỉnh ủy Phú Thọ không bằng bài mình nói ở hợp tác xã Đại Phong. Có lẽ cậu ấy nhận xét đúng.

Hình ảnh "con chim bằng" Nguyễn Chí Thanh

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh

… Anh Nguyễn Chí Thanh có đôi mắt nhỏ, khi anh trầm ngâm, những nếp nhăn ở đuôi mắt hằn sâu xuống. Đôi mắt lúc nào cũng hơi vẩn đỏ, hiền hậu như đôi mắt nông dân ấy lại có cái nhìn xuyên suốt sự vật tựa mắt chim bằng.

Mỗi lần theo anh về các địa phương và thấy anh mau chóng phát hiện những vấn đề mới trong thực tiễn thoạt nhìn tưởng rối như mớ bòng bong, tôi thường nghĩ: chính sự nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mac – Lênin (nhuần nhuyễn trên một nền lý luận vững chắc và cũng có khi chỉ mới bằng trực cảm), cộng với vốn sống phong phú về xã hội nông thôn ta, đã giúp anh phân biệt cái chính với cái phụ, bản chất và hiện tượng, mặt đúng mặt sai, để từ đó rút ra những mầm mống đã bắt đầu xuất hiện nhưng còn ít ỏi, rụt rè, như tìm hái những cây thuốc quý lẩn khuất giữa cả rừng cây cỏ dại.

Chẳng khác câu chuyện về quả trứng của Critxtốp Cô – lông xưa, nhiều điều anh vạch ra có vẻ quá ư đơn giản, thậm chí có người còn cho là không đáng gọi phát hiện vì quá vụn vặt. Họ quên không tự hỏi sao mình không là người đầu tiên nhận ra cái chân lý đơn giản, để lấy nó như nhặt viên ngọc giữa đống sỏi bộn bề.

Những phát hiện dù nhỏ nhưng đúng lúc có tác dụng lớn đối với người chỉ đạo. Đức tính này cần thiết cho những ai được giao phó những nhiệm vụ mũi nhọn vào lúc cách mạng chuyển giai đoạn, khi thực tiễn ngồn ngộn sức sống và chuyển biến mau lẹ.

Anh Thanh không ưa những người do xa rời thực tế mà không có ý kiến cụ thể, dứt khoát về bất cứ một vấn đề gì. Những người này thường trốn sau những ngôn từ bóng bẩy. Họ đi theo lối mòn, và vì vậy không bao giờ phát hiện được một điều gì mới mẻ. Anh công khai và không thương xót giễu cợt loại cán bộ đó. Anh nói:

“… Lãnh đạo kinh tế lại càng phải sát, càng phải cụ thể. Hỏi đến công việc gì, đồng chí đó cũng trả lời “nói chung”, “căn bản”, “tương đối” chung chung. Xin các đồng chí biết cho rằng: sau khi hiểu biết rất nhiều điều cụ thể rồi, người ta mới dùng đến những tiếng “nói chung”, “căn bản”, v.v… để khái quát lại tình hình. Đó là một điều cần thiết. Đằng này những đồng chí đó lại dùng những tiếng “nói chung”, “tương đối”, v.v… để lẩn tránh những vấn đề cụ thể mà mình không biết.

Lãnh đạo kinh tế không chỉ dựa vào cái “nói chung”, cái “tương đối” kiểu đó được. Trong phong trào thi đua hiện nay, chúngta có những kiện tướng thuỷ lợi, kiện tướng làm phân bón, trong hàng ngũ cán bộ, chúng ta có nhiều đồng chí xuất sắc hàng ngày hàng giờ lăn lộn với phong trào quần chúng, nhưng lại có một số đồng chí đã trở thành những “kiện tướng nói chung”, “kiện tướng tương đối”. Những đồng chí này cản trở phong trào rất nhiều.

Các đồng chí có biết những đồng chí đó xuất hiện trong hoàn cảnh nào không? Họ xuất hiện từ một nền nếp làm việc cũ rích theo lối ba khoán: tỉnh khoán cho huyện, huyện khoán cho xã, xã khoán cho hợp tác xã… Kết quả là không ai kiểm tra ai, công việc tốt hay xấu cũng không ai biết”.

                                                                         (Nói chuyện tại Vĩnh Phú ngày 25-4-1961) 

Cuộc sống: Trước hết là phát hiện những mầm mống tích cực

Cùng Bác về quê (Làng Sen, Nghệ An 1957)
Nói phát hiện, có người chỉ nghĩ tới chuyện nhìn thấy những mặt tiêu cực, những hiện tượng ngang trái đang cản trở cuộc sống đi lên. Nhưng, phát hiện trước hết là chỉ ra những mầm mống mới, những nhân tố tích cực vừa manh nha, và từ đó ghi nhận một chiều hướng phát triển. So với phát hiện những mặt yếu kém, những thiếu sót đang trốn tránh dưới những từ ngữ vàng son, cách này còn khó hơn.

Phong trào Đại Phong được phát hiện và mở rộng nhanh đầu những năm 60 là biểu hiện cách nhìn sắc sảo của anh Thanh. Từ một bài viết ngắn đăng trên báo Nhân Dân, anh thấy hé những mầm mống mới. Chộp lấy cơ hội, anh lao vào thực tế. Rồi từ thực tế, dựa và trí tuệ của tập thể lãnh đạo, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đối chiếu với lý luận, anh nhìn ra và nêu lên những vấn đề thực tiễn có giá trị cho cả một buổi đầu phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới ở nông thôn ta.

Hình như theo một nếp quen, nhìn những tình hình khó khăn nhất, bao giờ anh cũng thấy triển vọng, và ngược lại, anh chỉ ra được những mặt hạn chế ở những điển hình tiên tiến nhất. Giáp hạt năm 1963, nhiều địa phương gặp khó khăn về lương thực.

Anh đi kiểm tra tình hình ở Thanh Hoá và Nghệ An. Một buổi sáng tháng năm, tôi sang nhà anh và chờ đợi sẽ gặp một đồng chí đang băn khoăn trước khó khăn của đất nước hoặc ít ra cũng không bằng lòng với cung cách làm ăn của cán bộ các địa phương đã để thiếu đói lan rộng mà không kịp thời có biện pháp khắc phục. Nhưng ngược với dự kiến của tôi, anh tỏ ra rất vui. Anh kéo tôi lên gác, vào phòng làm việc rồi say sưa kể chuyện những hợp tác xã anh vừa về kiểm tra. Tôi hỏi anh tình hình thiếu đói ỏ Khu 4 cũ - theo báo cáo của ngành thống kê, riêng hai tỉnh trong giáp hạt có đến một triệu người thiếu ăn. Anh Thanh nói:

- Đúng là ở Nghệ An theo thống kê có khoảng bốn mươi vạn người thiếu. Nhưng phải thấy trong số này có những người năm nào cũng thiếu, năm nào Nhà nước cũng phải cứu tế dưới hình thức này hay hình thức khác.

Đó là những gia đình neo đơn, những người mất sức lao động, hoặc già cả không nơi nương tựa. Một số người khác thuộc các vùng chuyên trồng cây công nghiệp vốn dựa vào nguồn lương thực Nhà nước cung cấp: Năm nay những vùng này số người đong gạo ăn quả có nhiều người hơn những năm trước.

Ngược lại, phong trào sản xuất rất sôi nổi, đi từ đầu đến cuối tỉnh, đâu đâu cũng thấy nhân dân ra đồng làm thủy lợi. Thật sự đói thì không thể có phong trào sôi nổi như vậy. Cả tỉnh chỉ có sáu, bảy người ăn xin, bây giờ không còn nữa, bà con đã đùm bọc lẫn nhau.

Còn ở Thanh Hóa, gay nhất là vùng Nông Cống thì nay Nhà nước đã bán cho mỗi người mười ba cân gạo. Bà con phấn khởi lắm. Thật ra, già, trẻ, lớn, bé, có phải ai cũng mỗi tháng ăn hết mười ba cân gạo đâu.

Trong khi đó, lúa sắp được gặt, hoa màu cũng khá. Riêng huyện Tĩnh Gia đang thu hoạch năm nghìn mẫu khoai lang muộn, năng suất sau, bảy tấn một héc-ta, tức là gần gấp rưỡi năm ngoái; bà con đang tranh thủ dỡ gấp, phòng lụt tiểu mãn… Đầu năm nay hạn hán thế mà gieo trồng được chín mươi tám phần trăm diện tích, là giỏi…

Ngược lại, về thăm tỉnh Hưng Yên đang nức tiếng về phong trào thủy lợi, anh khen ngợi không tiếc lời, đồng thời chỉ ra sản lượng lúa sau mấy vụ tăng khá, nay đang giậm chân tại chỗ thậm chí sụt dần, vì các biện pháp kỹ thuật không liên hoàn, cân đối.

Nghiên cứu tình hình hợp tác xã Trần Phú ở ngoại thành Hà Nội - một hợp tác xã đạt năng suất khá đầu ngững năm 60, anh viết:

“Hợp tác xã Trần Phú mấy năm qua có phát triển nhưng nếu không có phương hướng mới tích cực hơn thì sẽ giẫm chân tại chỗ!

Rất rõ ràng hợp tác xã Trần Phú cần mở một con đường mới cho sản xuất. Tìm con đường mới ấy ở đâu? Xin thưa: chính ngay trong phương hướng sản xuất”.

Anh viết tiếp, vẫn với lối nói ví von quen thuộc:

“Mở hướng sản xuât mới, phải như một con mương lấy nước từ nguồn luôn luôn có dòng chảy, không nên là một cái ao con. Vì không nắm được đặc điểm này (…) hợp tác xã Trần Phú chỉ tổ chức kinh doanh lặt vặt như nuôi vài chục lợn, chăm mấy trăm con vịt v.v…

Thêm mấy trăm con lợn và vịt thì có nghĩa lý gì đối với một hợp tác xã quy mô thôn, thừa tới 30% sức lao động? Cũng vì chưa thấy rõ điều này, xã này giải quyết số ruộng đất chua tăng vụ của hợp tác xã kia. Cách tính toán đó sẽ đưa chúng ta đến chỗ san sẻ, cào bằng, luẩn quẩn”.

Thực tiễn và sâu sát

Muốn phát hiện vấn đề, phải sát thực tiễn. Hầu như đến bất kỳ đâu, nói chuyện với cán bộ, anh cũng nhắc đi nhắc lại chủ đề đó. Lên Tây Bắc, anh phê bình khu và tỉnh nắm tình hình kém, do đó phát hiện và giải quyết vấn đề chậm. Về huyện Yên Định (Thanh Hóa) anh hỏi đồng chí bí thư huyện uỷ thu nhập bình quân tính theo đầu người trong huyện bao nhiêu.

Trả lời: Huyện chưa tính. Lập tức anh quay lại vặn đồng chí ủy viên thường vụ tỉnh uỷ cùng đi: “Huyện chưa tính, tại sao tỉnh có thể báo cáo thu nhập bình quân mười một đồng? Huyện chưa tính, tỉnh căn cứ vào đâu để làm báo cáo?”.

Anh thường nói lãnh đạo một nền kinh tế có kế hoạch mà không nắm các con số thì khác nào vẽ voi trên giấy, chỉ tiêu muốn nêu ra bao nhiêu thì nêu, vô tội vạ. một tình trang rất không tốt là đến khi kiểm điểm công tác, mới biết mình không hoàn thành kế hoạch. Lúc này sự đã rồi. Đánh con thì bát đã vỡ. Có phê bình kiểm thảo cấp dưới gay gắt đến mấy cũng chẳng tác dụng bao nhiêu.

Anh lắc đầu ngao ngán khi đến dự một hội nghị bàn việc quản lý, hỏi tổng sản lượng năm nay so với năm ngoái tăng bao nhiêu. Tỉnh ủy không biết. Anh nói: Thế thì lấy đâu là cơ sở để đánh giá phong trào?

Anh rất thích câu nói của một đồng chí bí thư tỉnh ủy và thường nhắc lại ở nhiều cuộc họp: Lãnh đạo nông nghiệp ở cơ sở mà cán bộ còn xa quần chúng thì phong trào sản xuất chưa lên được. Chủ đề ấy, anh còn viết lên báo. Anh cho rằng không nên ngồi ở bàn giấy mà kêu phong trào chưa rộng chưa sâu. Cán bộ cấp trên phải về cơ sở. Cán bộ cơ sở phải xuống xã, xắn quần lội đồng. Làm ăn như vậy thì mới nhiều, và cũng tránh được thiếu sót sai lầm. Phát biểu tại Vĩnh Phú, anh nói:

“Chúng ta hãy phát huy tác phong giản dị, đi sát quần chúng, đi sâu vào những vấn đề lao động, sản xuất để phát động, để tổ chức quần chúng thực hiện tốt các chính sách chủ trương của Đảng. Xa rời quần chúng, chúng ta sẽ cảm thấy đơn độc, mất hẳn tính sáng tạo, mất hẳn dũng khí phấn đấu khắc phục khó khăn, mất hẳn các nguồn thực tế phong phú, sinh ra bảo thủ, không dám làm một việc gì mạnh bạo, cuối cùng trở thành bất lực, như một vật chướng ngại nằm ngang giữa đường cản bước tiến của phong trào”.

Anh phê phán không thương tiếc, đôi khi với sự hóm hỉnh nông dân, những cán bộ lãnh đạo địa phương ít đi sâu vào kinh tế cụ thể. Tôi từng bị vạ lây về việc ấy.

(Trích từ  "Cánh Chim Bằng" trong tập "Những người tôi quý mến" - Tác giả: Phan Quang - NXB Hội Nhà Văn 2002)

Còn tiếp...
 

 

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu