Sự nổi lên của các TIMBIs

Vai trò là nhà lãnh đạo nền kinh tế toàn cầu của BRIC trong tương lai bị đặt dấu hỏi lớn bởi những thách thức mà Trung Quốc và Nga đang phải đối mặt. Đó là các vấn đề về cơ cấu nhân khẩu, tình hình xuất khẩu và hệ thống chính trị. sự kiện nóng

Một nhóm các nền kinh tế năng động và dân chủ đang nổi lên: Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Mexico, Brazil và Indonesia (TIMBIs). Theo tác giả, các quốc gia này đều có cơ cấu nhân khẩu thuận lợi, dân chủ và đều là những nền kinh tế lớn. Đây là những yếu tố đảm bảo tăng trưởng mạnh mẽ về vốn con người và đổi mới, đưa những cường quốc khu vực này trở thành cường quốc thế giới trong tương lai.

Từ nay tới năm 2040, tăng trưởng lực lượng lao động ở TIMBIs sẽ duy trì ở mức từ 10-30%. Trong khi đó, lực lượng lao động ở Nga, châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ giảm khoảng từ 10-30%, ở Mỹ tăng 11%.

Từ năm 1980-2000, lực lượng lao động Trung Quốc tăng bình quân 1,7%/năm, nhờ hưởng lợi từ chính sách khuyến khích sinh đẻ của Mao Trạch Đông những năm 1960 và 1970. Tăng trưởng lao động đóng góp khoảng 20% vào tăng trưởng kinh tế hằng năm của Trung Quốc trong những thập niên này. Trong giai đoạn trên, đô thị hóa  - yếu tố chính thúc đẩy cải thiện năng suất ở Trung Quốc - tăng với tốc độ 4,3%/năm khi dân số thành thị tăng từ 20% lên 45% tổng dân số Trung Quốc. Bên cạnh đó, giáo dục cũng bùng nổ mạnh mẽ, với số sinh viên đại học trong giai đoạn 1998-2004 tăng từ 3,4 triệu lên 13,3 triệu người, tương đương 25%/năm.

Khó khăn của Trung Quốc, Nga và TIMBIs:

Trung Quốc

Tăng trưởng lực lượng lao động bắt đầu giảm vào năm 2010 sau giai đoạn áp dụng chính sách sinh một con từ năm 1978: đến năm 2040, dân số trong độ tuổi lao động sẽ giảm 15%. Lực lượng lao động từ tăng trưởng 1,7%/năm chuyển sang suy giảm 0,5%/năm sẽ lấy mất khoảng 2,2 điểm phần trăm tiềm năng tăng trưởng kinh tế hằng năm của Trung Quốc trong ba thập niên tới.

Tốc độ đô thị hóa - động lực thúc đẩy tăng trưởng chính - cũng sẽ chậm lại. Theo Cục dân số thuộc Phòng Kinh tế/Xã hội của Liên hợp quốc, dân số thành thị của Trung Quốc sẽ tăng từ 45% lên 67% vào năm 2040, tương đương mức tăng khoảng 360 triệu người. Tuy nhiên, tính trung bình hằng năm, tốc độ đô thị hóa chỉ đạt 1,5%, tức giảm khoảng 2/3 so với giai đoạn 1980-2010.

Phát triển giáo dục cũng gặp những hạn chế. 20% dân số trong độ tuổi học đại học của Trung Quốc đang theo học các trường cao đẳng và đại học, tỷ lệ tương đối lớn so với một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và thiên về lao động chân tay. Năm 2011, Trung Quốc thông báo sẽ hạn chế mở thêm các chương trình đào tạo tiến sĩ. Nỗi lo lớn nhất của sinh viên Trung Quốc sau khi tốt nghiệp là số lượng sinh viên ra trường vượt quá khả năng hấp thụ của nền kinh tế, bởi tìm kiếm một công việc văn phòng vô cùng khó khăn. Do đó, động lực nhân khẩu thúc đẩy tăng trưởng năng suất của Trung Quốc trong những năm qua sẽ không còn trong thời gian tương lai.

Như vậy, tăng trưởng năng suất của Trung Quốc sẽ chủ yếu phải dựa vào tăng trưởng dòng vốn trên mỗi lao động và đổi mới công nghệ. Nhưng theo một báo cáo của IBM về sử dụng các công nghệ mới nhất trong doanh nghiệp trên thế giới, Trung Quốc chỉ đứng thứ 83 trong số 134 quốc gia - Ấn Độ xếp thứ 43 và Brazil xếp thứ 58. Tại Trung Quốc cũng khó diễn ra những đổi mới lớn về công nghệ, do các ý tưởng mới thường khó được chấp nhận.

Nga

Dân số Nga đang suy giảm; hệ thống chăm sóc y tế còn nhiều bất cập. Cũng theo dự báo của Cục dân số LHQ, dân số trong độ tuổi từ 15-59 của Nga sẽ giảm 20% trong ba thập niên tới. Với đà suy giảm lực lượng lao động như vậy, để duy trì tăng trưởng kinh tế hằng năm 5%, Nga phải đảm bảo năng suất lao động trên mỗi công nhân tăng khoảng 6% mỗi năm (năm 2007, năng suất chỉ tăng 1%).

Nền kinh tế Nga thiếu tính đa dạng. Mặc dù là nhà xuất khẩu vũ khí hàng đầu thế giới và đang đạt được những tiến bộ về phần mềm, nhưng các sản phẩm khác của nga lại thiếu tính cạnh tranh trên trường quốc tế. Doanh thu từ dầu mỏ và khí đốt đóng góp tới 25% GDP của Nga. Sức tiêu tụ dầu mỏ và khí đốt trên thế giới năm 2008 và 2009 giảm đã gây ra tác động to lớn lên nền kinh tế Nga. Sản lượng dầu mỏ của Nga cũng trì trệ trong những năm gần đây. Vị thế thống lĩnh hị trường khí tự nhiên châu Âu được dự báo sẽ vấp phải sự cạnh tranh từ chính các mỏ khí đá phiến mới được phát hiện ở Tây Âu.

Do lực lượng lao động đã được đào tạo tốt, nên những cải thiện về năng suất sẽ chủ yếu xuất phát từ công nghệ mới và đầu tư vốn hiệu quả. Tuy nhiên, cả hai điều này Nga đều đang thiếu. Trong báo cáo trên của IBM, Nga chỉ đứng thứ 59 trong số 70 quốc gia về phát triển doanh nghiệp điện tử, thứ 98 trong số 134 quốc gia về sử dụng công nghệ mới nhất trong các doanh nghiệp.

Pháp luật không được bảo vệ và hệ thống tư pháp thiếu minh bạch cũng là những trở ngại lớn đối với việc cải thiện năng suất. Đó là chưa kể những khó khăn xuất phát từ nạn tham nhũng và vai trò quá lớn của nhà nước.

TIMBIs

Theo tác giả, TIMBIs dân chủ hơn, xây dựng được văn hóa doanh nghiệp mạnh, có lực lượng lao động sẽ tiếp tục tăng cao, trình độ giáo dục sẽ tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, các nước này cũng có những trở ngại của riêng mình. Thổ Nhĩ Kỳ có nguy cơ bùng phát xung đột nội bộ liên quan đến vấn đề quyền lợi của nhóm người Cuốc, thành phần chiếm khoảng 20% dân số Thổ Nhĩ Kỳ. Bên cạnh đó là vấn đề tự do ngôn luận.Ấn Độ tồn tại xung đột Hindu-Hồi giáo, nổi dậy ở các vùng nông thôn phía đông bắc; bất bình đẳng lớn giữa các khu vực; tham nhũng tràn lan. Brazil cũng đang phải đối mặt với vấn đề bất bình đẳng nghiêm trọng giữa hai miền nam bắc và bên trong các thành phố lớn. Indonesia cần phải giải quyết các xung đột khu vực đã âm ỉ từ lâu, trong khi Mexico còn tốn tại vấn đề bạo lực ma túy.

Vì sao TIMBIs có thay đổi đáng kể vị thế của mình trong nền kinh tế toàn cầu?

Với giả định tốc độ tăng trưởng bình quân của TIMBIs đạt 5%/năm, và của Anh, Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha đạt 1,5% (giai đoạn 1995-2005, tăng trưởng của bốn nước này chỉ đạt 1,4%/năm và hiện đang áp áp dụng các biệt pháp cắt giảm chi tiêu và nhân khẩu giảm):

Brazil được dự báo sẽ vượt qua Đức vào khoảng năm 2025, trở thành nền kinh tế lớn thứ tư thế giới (sau Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản). Đến năm 2020, Ấn Độ sẽ vượt qua Italia và Anh về sản lượng kinh tế; tới năm 2030 sẽ vượt qua Pháp và vươn tới gần bằng Đức, trở thành nền kinh tế lớn thứ sáu thế giới. Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ sẽ bắt kịp Nga và Tây Ban Nha, quy mô từ chưa bằng một nửa của hai nước này năm 2010 sẽ tăng lên lên gần bằng vào năm 2030.

Ngoài lợi thế về nhân khẩu, các nước TIMBIs còn có nền kinh tế đa dạng - các ngành chế tạo, nông nghiệp và dịch vụ đều phát triển. Xuất khẩu dầu mỏ không còn đóng vài trò trọng tâm như trước đây nữa. Kinh tế Mexico vẫn tăng trưởng 5%/năm trong giai đoạn 1995-2002, ngay cả khi tỷ trọng dầu mỏ trong tổng hàng hóa xuất khẩu giảm từ 62% năm 1980 xuống còn 7% năm 2010. Indonesia hiện đang là nhà nhập khẩu dầu mỏ ròng do đẩy mạnh tiêu dùng trong nước để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thổ Nhĩ Kỳ chắc chắn sẽ được hưởng lợi từ vị trí ở trung tâm giữa châu Âu, Trung Đông và châu Phi, lấy lại vai trò là trung tâm thương mại truyền thống Á-Âu, trong khi cũng là nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ khổng lồ cho Trung Á, Trung Đông và châu Phi.

Brazil không chỉ có trình độ công nghệ ngày càng tiên tiến mà còn là một trong những người dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh năng lượng toàn cầu nhờ theo đuổi chính sách sử dụng ethanol từ cây mía làm nhiên liệu.

Tăng trưởng kinh tế nhảy vọt của Ấn Độ được dẫn đầu bởi ngành dịch vụ và các công việc văn phòng giúp đưa Ấn Độ ở vào vị thế thuận lợi hơn Trung Quốc để thoát khỏi cuộc cạnh tranh với các quốc gia có chi phí nhân công thấp.

Hơn nữa, là các xã hội dân chủ công khai, các nước TIMBIs chắc chắn cũng sẽ được hưởng lợi khi chuyển sang nền kinh tế sáng tạo và tri thức - một bước nhảy vọt cho tới nay vẫn trốn tránh Nga và Trung Quốc, bất chấp hai thập niên đầy nỗ lực vừa qua.

TIMBIs cũng muốn khẳng đinh tiếng nói trong các vấn đề toàn cầu, không chỉ trong G20 mà còn trong tất cả các diễn đàn quốc tế. Nếu Mỹ và Trung Quốc tiếp tục cạnh tranh giành ảnh hưởng toàn cầu, châu Âu ủng hộ Mỹ và Nga đóng vai trò cân bằng, những lá phiếu quyết định trong các vấn đề sẽ nằm ở các nước TIMBIs. Các nước này có dân số lớn hơn Trung Quốc, GDP gần tương đương và nhiều khả năng sẽ tăng trưởng nhanh hơn trong tương lai. Ở cấp độ khu vực, ảnh hưởng của họ trải dài từ Trung Đông, Mỹ Latinh, Nam Á đến Thái Bình Dương. Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ đã và đang triển khai chính sách đối ngoại độc lập. Nếu TIMBIs thành lập một khối chung, ảnh hưởng của khối này có thể vượt quá ảnh hưởng của Trung Quốc cả về quy mô và mức độ.

 

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu