Nhân vật nhỏ của tôi

Tôi hiểu vì sao các em ở Tiền Giang lại thích lên thành phố bán dừa như vậy. Tôi hiểu vì sao các em nhỏ từ miền Trung vào kiếm sống bằng đủ mọi nghề. Nhưng điều khiến tôi trăn trở nhiều nhất là tương lai của những trẻ em mà tôi đã gặp. Liệu chúng có thoát khỏi cái số mệnh dường như đã được ông Trời định sẵn cho chúng, cũng như cha mẹ chúng hay không? sự kiện nóng

>> Kỳ 1: Ngày khai trường không dành cho trẻ lang thang cơ nhỡ

Những tấm lòng vàng 100 yen

Ngày 01.7.2008, tôi nhận được mail từ Tokyo. Nhưng lần này không phải từ tổng hãng NDN, hay những đối tác quen thuộc như NHK, Tokyo TV, hay Fuji TV...

Người gửi bức thư là Kenichiro Iba, Giám đốc Công ty sản xuất chương trình truyền hình Telecom Staff (TSC) (Nhật Bản). Trong thư, Iba đề nghị tôi phối hợp thực hiện chương trình nói về trẻ em lang thang đường phố ở Việt nam. Iba cũng giới thiệu rằng TSC đã sản xuất nhiều chương trình về trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại một số nước như Lào, Coooossovo, Indonesia, Kenia, Kolombia, Mondova, Ba lan, Nepan, Ấn độ..., và đây là lần đầu tiên họ làm chương trình ở Việt Nam.

Iba cũng cho biết chương trình sẽ được phát trên chuyên mục "Những tấm lòng vàng 100 yên" của Tokyo TV, nhằm kêu gọi những người hảo tâm ở Nhật Bản đóng góp tiền của để giúp đỡ trẻ em có những hoàn khó khăn trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Điều khiến tôi lo lắng nhất là bộ phim đã được lên lịch phát vào 27.8, cho kịp dịp khai giảng năm học mới. Thông thường, một chương trình phóng sự dài 40 phút, lại là phóng sự về vấn đề xã hội như thế này, riêng công tác chuẩn bị, kể cả tìm kiếm nhân vật, cũng phải cần 2 tháng. Rồi còn quay phim, biên tập, biên dịch, lồng tiếng,... chòm chèm tất cả cũng phải mất 4 tháng.

Sau khi làm các thủ tục cần thiết với các cơ quan quản lý báo chí nước ngoài tại Việt Nam, ngày 04/7 tôi đi Sài gòn tìm kiếm nhân vật cho bộ phim.

Nơi đầu tiên tôi tìm đến là Hội Bảo trợ trẻ em TP HCM, tại địa chỉ 85/65 Phạm Viết Chánh, phường 19, quận Bình Thạnh. Tại đây, họ đã cung cấp cho tôi một địa chỉ một số cơ sở "Mái ấm tình thương", mái ấm "Hoa hồng nhỏ", mái ấm "Tre xanh", "Dự án tương lai", cơ sở "Hội nhập", hay chương trình "Thảo đàn".

Thế là suốt một tuần liền, tôi tìm đến từng cơ sở đó, rồi đi theo các em lang thang cơ nhỡ, để tìm hiểu hoàn cảnh của chúng. Địa điểm tập trung nhiều trẻ em lang thang nhất là khu vực phía Tây chợ Bến Thành, với nhiều cảnh ngộ khác nhau. Em đánh giầy, em bán vé số, em ăn xin, em nhặt ve chai...

Mấy chị em Phượng với đống đò chơi nhặt từ bãi rác

Tôi đã làm quen với các em bằng nhiều cách. Khi thì mua vé số, khi lại thuê đánh giày. Có những ngày tôi thuê đánh đôi giày đang đi tới 4 lần, đến mức các em nhìn tôi như nhìn một thằng cha bảnh choẹ kiểu đồng bóng.

Sau một tuần, tôi tìm được 2 nhân vật trong số nhóm trẻ em bán nước dừa, lên từ Tiền Giang. Thế nhưng, khi gửi hồ sơ của hai em về Nhật, đạo diễn đã trả lời là là những nhân vật này hơi đơn điệu, vì chỉ có bán nước dừa, khó có thể gây xúc động với khán giả.

Tôi lại đành tiếp tục lang thang sang khu vực khác để tìm nhân vật.

Câu chuyện từ Xóm Chiếu

Tôi mò sang quận 4, đến chợ Xóm Chiếu. Kiên trì theo dõi nhóm trẻ em lang thang ở đây, tôi lại phát hiện hai em bán vé số. Trong đó có một em được chọn là nhân vật trong bộ phim. Đó là Lê Thị Bích Phượng và Nguyễn Thị Na.

Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi ở chợ Xóm Chiếu là một cháu gái loắt choắt, đeo một cái túi nhỏ ngang người, chạy loanh quanh khắp chợ mời mọi người mua vé số. Cô bé 8 tuổi này bé xíu, nhưng vẻ mặt luôn tươi tắn, nhanh nhẹn, và dường như có duyên bán hàng, nên hầu như ngày nào cũng bán được gấp đôi số vé so với Na, lớn hơn 2 tuổi và cũng to con hơn.

Ấy vậy mà phải mất một ngày lê la ở chợ, và với sự giúp đỡ của chị Nguyễn thị Phát, chủ nhiệm mái ấm "Tre xanh", tôi mới làm quen được với 2 gia đình này. Cũng may là tôi với cái bộ dạng cũng rất "bụi đời" của tôi, họ cảm thấy sự gần gũi, cảm thông nào đó, và tỏ ra khá thân thiện. Và tôi đã tìm hiểu được kỹ hơn về hai nhân vật này.

Gia đình cháu Nguyễn thị Na có 5 anh chị em, Na là con út. Quê Na ở Trà Vinh, bố là người dân tộc Khmer. Ngoài 2 người chị lớn đã lập gia đình riêng, cả nhà Na gồm 8 người (có 3 người dì, chị em của mẹ) hàng ngày vẫn lang thang ở khu vực Xóm Chiếu bán vé số và lượm ve chai.

Còn Lê thị Bích Phượng, 8 tuổi, là con gái đầu trong gia đình có 5 chị em, em nhỏ nhất là Lê thị Trâm Anh mới 8 tháng tuổi. Bố mẹ Phượng cũng xuất thân là những đứa trẻ lang thang.

Bố Phượng là Lê Phương Thành, 29 tuổi, từ huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Gang lên Sài Gòn lang thang kiếm sống từ năm 1982. Ban đầu, anh phụ việc ở quán cơm, sau đó theo mẹ bán nước ở công viên Tao Đàn.

Đã có thời gian từ 1986 đến 1995, bởi có sự tài trợ của bố nuôi là người Đức, Thành đã được đi học, và dạy võ thuật tại Nhà Văn hóa quận 1. Không may ông bố nuôi mất năm 1995, mất nguồn tài trợ ăn học, Thành lại tiếp tục cuộc sống lang thang bằng nghề nhặt ve chai.

Mẹ Phượng là chị Nguyễn thị Cúc, 25 tuổi, cũng làm nghề lượm ve chai ở khu vực chợ Xóm Chiếu. Cúc không biết chữ, không biết quê quán mình ở đâu. Chị chỉ biết rằng mình sinh ra ở chợ Xóm Chiếu, vì bố mẹ chị cũng là dân lang thang lượm ve chai ở đây. Khi Cúc mới 1 tháng tuổi, mẹ qua đời vì bênh tật, và Cúc được gửi vào Trung tâm bảo trợ trẻ em mồ côi Khánh Hội, quận 4.

Đến năm 1997, Cúc bán vé số, ngủ ngoài chợ Xóm Chiếu, tiếp tục cuộc sống lang thang như cha mẹ mình. Điều duy nhất đáng gọi là đặc biệt kể từ khi Cúc quay lại cuộc sống lang thang là việc hai năm sau chị gặp Thành, và nên vợ nên chồng.

Trao đổi với đạo diễn xong, tôi quyết định tìm hiểu thêm về Phượng. Ngoài việc Phượng mới 8 tuổi mà đã phải phụ giúp cha mẹ nuôi các em nhỏ, số phận của cha mẹ em nghe cũng thấy nao lòng, và dường như tôi thấy cuộc đời họ không có lối thoát.

Một ngày của Phượng

Tôi đã dành 1 ngày để đi theo bước chân của Phượng.

Tôi đã có mặt từ 8 giờ sáng tôi đã có mặt tại nhà cháu ở hẻm 14/12 đường Lương Đình Của, tổ 46, phường An Khánh, quận 2 (cách phà Thủ Thiêm khoảng 1km). Gọi là nhà nhưng thực ra là một căn phòng trọ cấp 4 rộng chừng 15m2 lợp tấm phê bơ rô xi măng.

9 giờ sáng Phượng mới ngủ dậy. Hỏi mới biết đêm nào em cũng về nhà vào lúc nửa đêm.

Phượng đưa 2 em ra ăn sáng tại quán đầu ngõ. Hôm nay là ngày đặc biệt, tức là có khách, nên mẹ cho tiền chị em đi ăn phở. Bình thường, mấy chị em chỉ ăn cơm nguội, mì tôm, hoặc bánh myì.

Cô em 7 tuổi ngồi ăn ngoan ngoãn, nhưng cậu em trai 4 tuổi có vẻ không chịu ăn. Chị Phượng phải vừa ăn đút cho em từng thìa. Cô bé gắp hết thịt từ bát mình sang bát của cậu em.

10 giờ sáng, Phượng bắt đầu ngày làm việc của mình. Em ra khỏi nhà với tập vé số trên tay, hướng tới chợ Xóm Chiếu, vừa đi vừa bán.

Một chiếc túi khoác chéo qua vai, đầu đội mũ vải hoa, chân đi đôi dép nhựa quá cỡ, hình như là đôi dép cũ của mẹ. Cung đường đi bộ của Phượng là qua phà Thủ Thiêm, dọc theo bến Bạch Đằng, qua cầu Khánh Hội, sang đường Nguyễn Tất Thành, qua cây xăng vào đường Hoàng Diệu, trước khi đến chợ Xóm Chiếu. Phượng đi hết khoảng 1 tiếng rưỡi đồng hồ cho quãng đường mà tôi áng chừng dài khoảng 4 cây số.

12 giờ trưa, Phượng ghé vào một quán cơm bình dân ngay trong chợ, gọi một dĩa cơm 5 ngàn đồng. Sau đó, cô bé lại tiếp tục đi loanh quanh rao vé số trong khu chợ.

Hai cô trò - hai người bạn

3 giờ chiều, Phượng rời chợ đi ngược lại cung đường buổi sáng. Nhưng thay vì về nhà, cô bé đến cửa hàng bánh mỳ Như Lan trên đường Hàm Nghi. Đó là địa điểm hàng ngày bố chờ Phượng vào lúc 5 giờ để nhận lại số vé không bán được, đặng trả cho đại lý, và lấy tiếp vé số cho ngày hôm sau.

Từ 5 rưỡi chiều đến khoảng 10 giờ đêm, Phượng lại tiếp tục đi rao bán vé số quanh cửa hàng Như Lan, và dọc đường Hàm Nghi. Người bố, theo quan sát của tôi, đi nhặt ve chai quanh khu vực đó. Chốc chốc, anh lại ngó tìm xem con gái đang ở hướng nào.

Hai bố con Phượng trở về nhà trên chuyến phà cuối cùng vào 11 giờ đêm. Bố Phượng nói hôm đó không phải là ngoại lệ.

Tôi mệt bã người sau một ngày đi theo Phượng. Tưởng về đến khách sạn là được một giấc thật say, nhưng nằm mãi vẫn không chợp mắt được. Hình ảnh cháu bé mới 8 tuổi, hàng ngày phải bươn chải ngoài đường kiếm tiền phụ giúp bố mẹ nuôi các em cứ ám ảnh tôi. Nhất là giọng nói trẻ con mà câu trả lời già dặn của Phượng luôn văng vẳng bên tai tôi.

Tôi hỏi: Cháu đi bán vé số từ bao giờ?

Phượng đáp: Con đi bán từ lúc 3 tuổi.

Tôi: Tại sao cháu phải đi làm sớm vậy?

Phượng: Con đi làm phụ giúp bố mẹ, mẹ con bị bệnh có làm được gì đâu. Tôi: Mỗi ngày cháu bán được bao nhiêu tờ vé số?

Phượng: Con bán được 100 đến 120 vé số.

Tôi: Cháu chưa biết chữ, vậy có khi nào bị nhầm tiền không?

Phượng: Con không đọc được, nhưng con nhận được mặt tiền nên không bị nhầm bao giờ.

Tôi: Những lúc ở nhà cháu chơi cái gì?

Phượng (nhoẻn cười rất tươi): Con nhiều đồ chơi lắm nhất là búp bê.

Tôi chau mày, tự hỏi lấy tiền đâu ra mà mua nhiều đồ chơi vậy.

Phượng, như đoán được ý tôi, hồn nhiên đáp: Ba má con đi nhặt ve chai, khi thấy đồ bỏ đi thì nhặt về cho con chơi. Con có cả một bao tải đồ chơi.

Nhưng bác ơi, búp bê có con có tay, lại không có chân. Và con có chân lại thiếu tay. Buồn cười bác nhỉ?

Nói đến đó, Phượng lại nhoẻn miệng cười, rất hồn nhiên. Còn tôi tự nhiên muốn ứa nước mắt.

Tôi vội hỏi: Thế cháu có muốn đi học không?

Phượng trố mắt nhìn tôi, đầy ngỡ ngàng. Rồi lại cúi mặt xuống, vẻ mặt trẻ thơ tự nhiên thấy đăm chiêu.

Rồi cô bé thỏ thẻ lên tiếng: Dạ, con cũng muốn đi học để biết đọc, biết viết. Nhưng, nếu đi học, lại không đi bán vé số phụ giúp ba má được.

Tôi: Vậy vừa đi học, vừa đi bán vé số.

Phượng lại nhoẻn miệng cười...

Niềm hạnh phúc lớn lao đối với Phượng: Lần đầu tiên được cầm bút

Vĩ thanh

Một đoạn phim ngắn tôi quay giới thiệu 4 em bé lang thang được gửi về Nhật. Đạo diễn Moriyama đã mang đoạn băng này đến trường tiểu học hỏi ý kiến các em ở đó. Theo ý tưởng của các nhà làm phim, các em chọn nhân vật nào, họ sẽ xây dựng bộ phim quanh nhân vật đó.

Theo đạo diễn Moriyama kể lại, khi xem xong đoạn băng, các em học sinh Nhật Bản đã đỏ hoe mắt, trước khi đưa ra những lời nhận xét.

Và đây là biên bản ghi lại ý kiến của các em:

Bạn Phượng gia đình nghèo, đông chị em, bố mẹ không có việc làm. Phượng yêu bố mẹ và các em của mình nên đã cố gắng làm việc suốt cả ngày.

Chúng em thương bạn Phượng lắm. Cần phải chung tay giúp đỡ Phượng bớt vất vả, để có cơ hội đến trường.

Và, thật bất ngờ, ngay tại lớp học này, các em cháu đã tự quyên ngay tiền, tiết kiệm tiền ăn trưa, để góp được 8 ngàn yên (khoảng 2 triệu đồng) tặng Phượng. Số tiền này, khi sang Việt Nam quay phim, Moriyama đã trao tận tay cho Phượng.

Chương trình đã hoàn thành đúng kế hoạch, để phát vào 27.8.2008. Hôm chia tay cháu Phượng, cô Mori Chisato, sinh năm 1981, người dẫn chương trình, đã oà lên khóc.

Chisato hứa sẽ trở lại thăm Việt Nam, vì ở đây có Phượng là người bạn nhỏ của cô. Còn Phượng hứa sẽ cố gắng học chữ để viết thư cho cô.

Sau đó 2 tuần, đúng dịp phim lên sóng, tôi nhận được lá thư cháu Phượng nhờ gửi cho cô Chisato: "Cháu Phượng, cám ơn cô Chisato!"

Nét chữ còn nguệch ngoạc, nhưng tôi hiểu ẩn chứa bên trong là lòng biết ơn của cháu gửi đến cô người Nhật, người thầy đầu tiên của Phượng, người đã dạy Phượng biết viết tên của mình.

Còn tôi, nhờ 9 ngày lang thang khắp đường phố Sài Gòn đi tìm nhân vật, tôi đã hiểu được một góc khác của cuộc sống ở cái thành phố được coi là đang phát triển năng động nhất Việt Nam này.

Tôi hiểu vì sao các em ở Tiền Giang lại thích lên thành phố bán dừa như vậy. Tôi hiểu vì sao các em nhỏ từ miền Trung vào kiếm sống bằng đủ mọi nghề.

Nhưng điều khiến tôi trăn trở nhiều nhất là tương lai của những trẻ em mà tôi đã gặp. Liệu chúng có thoát khỏi cái số mệnh dường như đã được ông Trời định sẵn cho chúng, cũng như cha mẹ chúng hay không?

Có lẽ tôi, cũng như từng cá nhân độc giả, không ở cái vị thế có thể trả lời đầy đủ được câu hỏi này.

Thế nhưng, mỗi người chúng ta vẫn có thể cùng chúng ta làm một điều gì đó để phần nào đó tạo cho các trẻ em lang thang, cơ nhỡ, một cơ hội, hay chí ít một hy vọng nhỏ nhoi, bằng cách bớt đi một ly cà phê, một bao thuốc lá, hoặc một lon bia, tôi nghĩ.

Như các học sinh tiểu học từ nước Nhật xa xôi đã làm với những em như cô bé Phượng.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu