Đầu tư nước ngoài nhìn từ hai phía

Thông tin lạc quan vừa được Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết là vốn giải ngân đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 3 đạt 1,39 tỉ USD. sự kiện nóng

Đây là mức cao nhất kể từ đầu năm đến nay, đưa tổng số giải ngân FDI quý I lên mức 2,54 tỉ USD, bằng khoảng 22,1% định mức đề ra 11,5 tỉ USD của năm 2011. Trong tháng 3 có 80 dự án FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 566 triệu USD. Cả quý I, đã có 2,37 tỉ USD vốn FDI đăng ký (cả cấp mới và tăng vốn).

Trong khi đó một số nhà phân tích tỏ ra lo ngại các biện pháp điều hành vĩ mô gần đây sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư nước ngoài.

Cho dù có nhiều nhận định khác nhau về những khó khăn và thuận lợi của doanh nghiệp nước ngoài vào làm ăn tại Việt Nam, nhưng các chuyên gia, doanh nhân trong cũng như ngoài nước, các định chế quốc tế đều đánh giá FDI hơn mười năm qua đã có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của chúng ta.

Mới đây, ông Mare Mealy, Phó chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp Mỹ - ASEAN, trong khi bày tỏ lo ngại về những khó khăn mà các doanh nghiệp nước ngoài có thể gặp phải trước tình hình chung của khu vực, vẫn cho rằng về mặt nào đó, Việt Nam là nơi hoàn toàn hấp dẫn để đến kinh doanh hiện nay căn cứ vào tốc độ phát triển dù không như Singapore hay Malaysia, các nước có định chế kinh tế đủ mạnh để có thể đối phó với các tình huống bất thường. Với tư cách là một quan chức Hội đồng Doanh nghiệp Mỹ - ASEAN, ông cổ vũ doanh nghiệp nên gia tăng đầu tư và mậu dịch ở nơi có nhiều đại công ty của Mỹ làm ăn như Coca-Cola, Chevron, Ford, Intel... .

Vậy thì để có thể đối phó với những tình huống bất thường, chúng ta cần nhìn thực tế đầu tư nước ngoài dưới nhiều góc độ.

Những hạn chế của đầu tư nước ngoài

Công nhân làm việc tại Công ty SamYang - doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam.
Ảnh Hoàng Phượng

Hiện khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 20% GDP, trên 50% kim ngạch xuất khẩu của chúng ta mỗi năm, chưa thể nói đã trở thành nguồn lực cạnh tranh của đất nước.

Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đầu ra chủ yếu của các doanh nghiệp FDI là dành cho xuất khẩu. Có đến 55% tổng số doanh nghiệp xuất khẩu hơn một nửa sản phẩm đầu ra theo hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.

Ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho rằng phải chăng do những ưu đãi đầu tư kém đi mà gần đây doanh nghiệp FDI đang chuyển sang nhập khẩu về để phân phối. Điều này cũng dễ hiểu vì theo cam kết WTO khi doanh nghiệp FDI có cơ sở sản xuất thì được quyền chuyển sang hình thức nhập khẩu phân phối. Thế nhưng thêm chức năng đó thì tất nhiên họ sẽ phải thu hẹp sản xuất ảnh hưởng đến đóng góp vào GDP cũng như việc làm cho xã hội.

Mặt khác, do quản lý về môi trường của Việt Nam chưa chặt, nên nhà đầu tư chuyển những dự án ô nhiễm môi trường mà các nước khác đang siết lại sang Việt Nam, gây không ít khó khăn về bảo vệ môi trường và cả tình trạng quá tải về điện.

Ngoài ra, doanh nghiệp FDI lỗ hay lãi thế nào, cơ quan quản lý đầu tư cũng khó nắm chính xác. Việc lỗ lãi của doanh nghiệp FDI đúng ra thuộc về trách nhiệm của chi cục thuế địa phương, nhưng các nơi này thường không có điều kiện bám sát thu chi của doanh nghiệp để xem báo cáo thuế có chuẩn không.

Đáng lưu ý là mặc dù kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI rất khả quan, nhưng do khu vực này cũng đứng đầu trong việc nhập khẩu nên kết quả là khu vực FDI đứng đầu trong nhóm nhập siêu. Theo số liệu vừa được Tổng cục Hải quan công bố, trong tháng 3, khu vực FDI xuất khẩu 3,2 tỉ USD, tăng 45% so với tháng trước. Nhưng cũng trong thời gian này, khu vực FDI nhập khẩu 3,6 tỉ USD, tức nhập siêu 400 triệu USD, tăng 38,5% so với tháng trước.

Không những vậy, hiện tượng siêu dự án FDI có vấn đề không phải là ngoại lệ. Điển hình phải kể đến dự án "Thành phố sáng tạo Nam Tuy Hòa" của Tập đoàn Galileo Investment Group Inc (Mỹ) với số vốn đăng ký 11,4 tỉ USD đã bị UBND tỉnh Phú Yên thu hồi giấy chứng nhận đầu tư vì chậm triển khai, Nhà máy Gang thép Eminence ở Thanh Hóa (30 tỉ USD), Khu du lịch sinh thái bãi biển Rồng tại Quảng Nam (4,15 tỉ USD), Nhà máy thép Guang Lian ở Quảng Ngãi (4,5 tỉ USD), Khu liên hợp thép Cà Ná ở tỉnh Ninh Thuận (9,8 tỉ USD)... Những siêu dự án này được thổi phồng quá mức để che đậy thực chất không có gì, đồng thời là cớ để chiếm dụng đất đai và các nguồn tài nguyên khác.

Chính sách FDI hiện nay còn có nguy cơ tạo ra một cấu trúc kinh tế méo mó, kém hiệu quả mà sẽ phải mất nhiều năm để khắc phục. Chẳng hạn như trong ngành lắp ráp xe hơi, sau gần 20 năm bảo hộ, tỷ lệ nội địa hóa hiện nay của các doanh nghiệp FDI trong ngành này chưa tới 7%, thấp hơn rất nhiều so với mức cam kết tối thiểu 30% phải đạt được vào năm 2006. Hay như sự nở rộ các dự án thép do chi phí năng lượng, tài nguyên, và môi trường quá rẻ rất có thể sẽ biến Việt Nam thành một nền kinh tế thâm dụng năng lượng và ô nhiễm môi trường.

Ông Nguyễn Đăng Bình, Phó vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho rằng: "Tuy số lượng vốn FDI đăng ký cao chưa từng thấy với nhiều dự án có quy mô vài tỉ USD, nhưng còn rất nhiều vấn đề cần phải xem xét và cân nhắc về cơ cấu đầu tư theo ngành, mức độ cam kết vốn, năng lực của các nhà đầu tư và số vốn đầu tư thực sự chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam. Đây là lúc chúng ta cần rà soát lại những dự án để cắt bỏ những dự án nếu nó mang lại hậu quả xấu cho nền kinh tế - xã hội".

Về phía chúng ta

Trong khi chúng ta nhận định về những mặt chưa được của hoạt động FDI thì gần đây, lần đầu tiên khối doanh nghiệp FDI tham gia và góp tiếng nói riêng vào bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), thêm một lần nữa giúp chúng ta nhìn lại mình qua ý kiến của 1.155 doanh nghiệp FDI đến từ 47 quốc gia. Trong khi đánh giá sự năng động và cơ sở hạ tầng các tỉnh là khá tốt thì doanh nghiệp FDI cũng cảm nhận yếu tố tích cực này không khỏa lấp được nỗi lo nghiêm trọng về tệ nạn hối lộ, sự không rõ ràng trong chính sách của các địa phương.

Tiến sĩ Edmund Malesky - trưởng nhóm nghiên cứu PCI, đại diện USAID - ghi nhận lời than phiền của các doanh nghiệp FDI cho rằng 20% doanh nghiệp FDI đã phải trả khoản phí này khi đăng ký kinh doanh; 40% doanh nghiệp phải chi hoa hồng khi đấu thầu, mua sắm công; 70% doanh nghiệp FDI phải tốn kém cho khoản bôi trơn để thông quan hàng hóa nhanh hơn.

Dù đã phải trả thêm khoản bôi trơn này, thì việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp FDI cũng không dễ dàng hơn. Theo tiến sĩ Edmund, các doanh nghiệp FDI khá chật vật với thủ tục quy định ở địa phương, đa số phải đợi chờ hơn một tháng để hoàn tất thủ tục pháp lý và đây cũng là gánh nặng cho các doanh nghiệp FDI.

Tiến sĩ Edmund Malesky, chia sẻ, có 10 yếu tố tác động để thúc đẩy quyết định đầu tư của FDI vào Việt Nam. Đầu tiên là chi phí và chất lượng lao động, ưu đãi thuế và đất đai, sự ổn định chính trị, chi phí nguyên vật liệu, trung gian, sức mua người tiêu dùng, quy mô thị trường nội địa, hạ tầng khu công nghiệp và tính ổn định kinh tế vĩ mô...

Lâu nay chúng ta vẫn kỳ vọng các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, thế nhưng nghiên cứu của Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam chỉ ra rằng muốn thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, tạo ra nhiều giá trị gia tăng và có độ lan tỏa lớn thì cần chú trọng hơn đến chất lượng giáo dục đại học và các yếu tố quản trị điều hành như bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát tham nhũng và đảm bảo thực thi hợp đồng... Đây là những vấn đề chúng ta chưa vượt qua được và chính là lý do khiến các nhà đầu tư công nghệ cao quan ngại nhiều hơn cả.

Suy cho cùng, để phát huy hơn nữa sự đóng góp của đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế, chúng ta cần trở về với những mục tiêu ban đầu để xây dựng một chiến lược lâu dài và cụ thể có tính quốc gia, tránh tình trạng cát cứ địa phương. Chiến lược này cũng nhằm thúc đẩy xuất khẩu, thu hút vốn cũng như công nghệ và được xem là chất xúc tác về kinh doanh cho nền kinh tế.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 1/1 - 22/3/2011

Số dự án          (dự án)

Số dự án          (Triệu USD)

TỔNG SỐ                               173

2.037,6

Phân theo một số địa phương

TP. Hồ Chí Minh                      35

1.073,2

Ninh Thuận                               1

266,0

Đà Nẵng                                  6

235,7

Bình Dương                              15

138,5

Bà Rịa-Vũng Tàu                      9

121,6

Hà Nội                                     55

39,3

Long An                                   20

30,6

Hà Tĩnh                                    1

20,0

Hưng Yên                                4

19,9

Thanh Hóa                               1

17,4

Đồng Nai                                 8

17,2

Bắc Ninh                                  4

15,2

Khánh Hòa                               1

13,2

Quảng Nam                              1

8,7

Vĩnh Phúc                                 3

7,0

Bình Thuận                               5

6,0

Phân theo một số nước và vùng lãnh thổ

 

Singapore                                 16

1.078,9

Hồng Kông (Trung Quốc)         10

326,0

Quần đảo Virgin thuộc Anh       6

252,4

Hàn Quốc                                52

168,0

Nhật Bản                                  34

96,9

Brunei                                     1

25,0

Canada                                    3

20,5

CHLB Đức                              1

13,2

Đài Loan                                  11

13,0

Malaysia                                   3

10,2

CHND Trung Hoa                    14

8,7

Ấn Độ                                     3

6,8

Thái Lan                                   3

5,6

Vương quốc Anh                      2

5,1

Tây Ban Nha                            3

3,3

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

 

 

 

 

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu