Đồng thuận hậu Washington

Phiên bản chủ nghĩa tư bản của Mỹ không còn chế ngự thế giới. Trong thập kỷ tới, các quốc gia đang phát triển nhiều khả năng sẽ tiếp tục giao thương một cách hiệu quả và mềm dẻo khi gắn mô hình thị trường tự do với các chính sách trong nước nhằm đảm bảo khả năng bật nảy tốt hơn trước các sức ép cạnh tranh và những tổn thương kinh tế toàn cầu. sự kiện nóng

Trong đợt suy thoái toàn cầu mời nhất xuất phát từ Mỹ, tác động hủy diệt của nó không chỉ đối với nền kinh tế toàn cầu mà cả với nền chính trị thế giới. Cuộc Đại suy thoái mở đường cho một thay đổi từ phương pháp kiểm soát tiền tệ nghiêm ngặt và những chính sách tự do kinh doanh sang cách quản lý cầu kiểu Keynes. Quan trọng hơn, đối với nhiều người, cuộc đại suy thoái này đã phá vỡ tính hợp pháp của chính hệ thống tư bản, mở đường cho sự nổi lên của các phong trào chống tự do và cấp tiến trên toàn thế giới.

Hiện nay, không có sự tẩy chay hoàn toàn đối với chủ nghĩa tư bản, kể cả trong thế giới đang phát triển. Đầu năm 2009, khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang ở đỉnh điểm, Trung Quốc và Nga, hai nước trước đây không vận hành theo kiểu tư bản chủ nghĩa, đã nói rõ với các nhà đầu tư trong và ngoài nước rằng họ không có ý định từ bỏ mô hình chủ nghĩa tư bản. Không lãnh đạo nào của một nước đang phát triển quay lưng lại với cam kết của mình về tự do thương mại hay hệ thống tư bản toàn cầu. Thay vì thế, các nền dân chủ phương Tây lại chính là những nơi nhấn mạnh đến nguy cơ của tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào quá trình toàn cầu hóa do thị trường quyết định và kêu gọi điều chỉnh lớn đối với hệ thống tài chính toàn cầu.

Tại sao phản ứng trong các nước đang phát triển sau cuộc khủng hoảng này lại không cực đoan như trong cuộc Đại suy thoái? Theo một số người, Mỹ chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng. Nhiều người trong thế giới đang phát triển nhất trí với Tổng thống Brazil Luiz Inácio Lula da Silva khi ông nói "Đây là một cuộc khủng hoảng do những người da trắng với đôi mắt xanh gây ra". Nếu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến ta phải xem xét lại mô hình phát triển nào đó, thì đó chính là thị trường tự do hay mô hình tự do kiểu mới, vốn nhấn mạnh tới tự do hóa, bãi bỏ các quy định và giảm thuế. Rất ít nước đang phát triển tự cho mình là đã thực sự áp dụng mô hình này.

Ảnh minh họa: bankofnaturalcapital.com

Thực vậy, nhiều năm trước cuộc khủng hoảng, họ đã giữ khoảng cách với mô hình này. Các cuộc khủng hoảng tài chính trong những năm 1990 tại Đông Á và Mỹ Latinh đã phá hỏng nhiều ý tưởng gắn với cái gọi là Đồng thuận Washington, đặc biệt là ý tưởng sự nhờ cậy hoàn toàn vào nguồn vốn nước ngoài. Đến năm 2008, hầu hết các nước thị trường mới nổi đã giảm sự phụ thuộc vào các thị trường tài chính nước ngoài bằng việc gia tăng dự trữ ngoại tệ và duy trì kiểm soát điều chỉnh đối với các hệ thống ngân hàng của mình. Các chính sách này giúp cho họ miễn dịch với những bấp bênh trong nền kinh tế toàn cầu và vực dậy ấn tượng sau cuộc khủng hoảng mới đây: các thị trường mới nổi đã đạt được những con số tăng trưởng kinh tế tốt hơn nhiều so với các đối tác ở thế giới phát triển.

Như vậy, phiên bản chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ, nếu không phải là mang đầy tiếng xấu, thì ít nhất cũng không còn chế ngự được nữa. Trong thập kỷ tới, các nước có thu nhập thấp hoặc nền kinh tế thị trường mới nổi sẽ thay đổi cách tiếp cận của mình đối với chính sách kinh tế sau này, theo hướng kinh doanh mềm dẻo và hiệu quả gắn với mô hình thị trường tự do trong các chính sách đối nội nhằm đảm bảo chống chọi tốt hơn trước các sức ép cạnh tranh và những tổn thương của nền kinh tế toàn cầu.

Họ sẽ ít tập trung hơn vào các dòng vốn tự do, quan tâm nhiều hơn tới việc giảm thiểu tình trạng chia rẽ xã hội thông qua các chương trình an sinh xã hội, và tích cực hơn trong việc hỗ trợ các công ty trong nước. Và họ thậm chí sẽ không trì hoãn như trước việc thực hiện ý kiến của giới chuyên môn trong các nước phát triển hơn vì tin rằng không chỉ sức mạnh kinh tế mà cả sức mạnh trí tuệ đang ngày càng được phân bố đồng đều.

Sùng bái nguồn tài chính bên ngoài

Một trong các đặc điểm chính của sự đồng thuận kinh tế cũ, trước khi xảy ra khủng hoảng, là giả định rằng các nước đang phát triển có thể hưởng lợi từ các dòng vốn nước ngoài lớn hơn - điều mà nhà kinh tế học Arvind Subramanian gọi là "sự sùng bái tài chính bên ngoài". Ý tưởng cho rằng dòng tư bản hoàn toàn tự do trên toàn cầu, giống như dòng hàng hóa và dịch vụ tự do, làm cho các thị trường hoạt động hiệu quả hơn, ít nhiều đã được coi là giả định cho các chu kỳ chính sách.

Trong những năm 1990, Mỹ và các thể chế tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã đẩy mạnh việc cho các nước đang phát triển vay để mở cửa các thị trường tài chính cho các ngân hàng nước ngoài và dỡ bỏ kiểm soát đối với tỷ giá hối đoái. Dù các lợi ích của tự do thương mại đã được thống kê, nhưng vẫn chưa có thông tin rõ ràng về các lợi ích của việc huy động đầy đủ vốn. Lý do là sự khác biệt căn bản giữa lĩnh vực tài chính với nền kinh tế "thực". Vì vậy các thị trường vốn tự do có thể phân bổ vốn hiệu quả. Nhưng các thể chế tài chính kết nối với nhau rộng rãi cũng có thể gặp những rủi ro mà những yếu tố tiêu cực bên ngoài gây ra với phần còn lại của nền kinh tế theo cách mà hãng sản xuất lớn không gặp phải.

Một trong những hậu quả nghịch lý của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 - 2009 có thể là người Mỹ và người Anh cuối cùng sẽ học được điều mà những người Đông Nam Á đã rút ra cách đây một thập kỷ, rằng các thị trường vốn mở kết hợp với các lĩnh vực tài chính không được kiểm soát tạo thành một quả bom nổ chậm.

Khi khủng hoảng tài chính châu Á kết thúc, nhiều nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia kinh tế Mỹ nhớ lại tâm trạng căng thẳng trước đây khi họ tiến hành tự do hóa quá nhanh, và bắt đầu thúc đẩy "sắp xếp lại đúng thứ tự", tức là tự do hóa chỉ sau khi có một hệ thống điều tiết mạnh với vai trò giám sát ngân hàng một cách thích hợp. Nhưng họ đã nghĩ một chút về việc liệu một số quốc gia đang phát triển có thể thực hiện sự điều chỉnh như vậy một cách nhanh chóng hay không, và chế độ điều chỉnh như thế nào là phù hợp. Và họ đã không phù hợp hóa thông điệp mới với trường hợp của mình, không cảnh báo được các nguy hiểm của hệ thống tài chính quá lớn và thiếu điều tiết tại Mỹ.

Vì vậy, hậu quả rõ ràng đầu tiên của cuộc khủng hoảng là chấm dứt sự sùng bái đối với nguồn tài chính nước ngoài. Các quốc gia theo đuổi nguồn tài chính này một cách hăng hái nhất, như Iceland, Ireland và những nước Đông Âu, là những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất và phải đối mặt với quá trình phục hồi khó khăn nhất. Đúng như đối với Wall Street, mức tăng trưởng mạnh mà các nước này đạt được trong những năm 2002-2007 một phần đã chứng tỏ một điều kỳ diệu, phản ánh khả năng vay nợ quá dễ và tỷ suất đòn bẩy cao, hơn là những nền tảng mạnh.

Đảm bảo các chương trình xã hội

Hậu quả thứ hai là các nước đang phát triển bắt đầu lại chú ý đến các lợi ích xã hội và chính trị của một chính sách xã hội nhanh nhạy. Trước cuộc khủng hoảng, các nhà hoạch định chính sách có xu hướng đánh giá thấp giá trị của bảo hiểm xã hội và các chương trình an sinh xã hội, ưu tiên cho các chiến lược nhấn mạnh tới hiệu quả kinh tế. Tổng thống Mỹ Ronald Reagan và Thủ tướng Anh Ronald Reagan đã lên nhậm chức trong những năm 1970 và 1980 bằng việc công kích mô hình phúc lợi xã hội hiện đại, và nhiều trong số các chỉ trích của họ đã đúng: công chức nhà nước trở nên béo múp và làm việc không hiệu quả tại nhiều nước. Đồng thuận Washington không hẳn bác bỏ việc sử dụng chính sách này, nhưng việc nó tập trung vào tính hiệu quả và quy tắc tài chính thường dẫn tới cắt giảm chi tiêu xã hội.

Tuy nhiên, cái mà cuộc khủng hoảng đã gây ra là làm tăng thêm tính bất ổn cố hữu trong các hệ thống tư bản - cả những hệ thống phát triển và tinh vi như của Mỹ. Chủ nghĩa tư bản là một quá trình năng động mà nạn nhân thường là những người bị mất việc làm hoặc kế sinh nhai của họ bị đe dọa. Trong và sau cuộc khủng hoảng, người dân đã hy vọng các chính phủ của mình cung cấp một sự ổn định nào đó để đối phó với bất chắc về kinh tế. Đây là một bài học mà các chính trị gia ở các nước đang phát triển sẽ không thể quên; sự vững chắc và tính hợp pháp của hệ thống dân chủ của họ sẽ phụ thuộc vào khả năng đưa ra một biện pháp bảo vệ xã hội tốt hơn.

Hãy xem châu Âu đã phản ứng như thế nào so với Mỹ. Đến nay, với cuộc khủng hoảng trong khu vực đồng euro, các nước Tây Âu đã trải qua một quá trình phục hồi ít đau đớn hơn nhiều, nhờ hệ thống chi tiêu xã hội tự động của họ phát triển hơn, trong đó chế độ trợ cấp thất nghiệp. Ngược lại, việc giải quyết nạn thất nghiệp ở Mỹ khiến cho mô hình của Mỹ tỏ ra ít hấp dẫn hơn đối với các nhà hoạch định chính sách ở thế giới đang phát triển, đặc biệt là những người phải chịu ngày càng nhiều sức ép chính trị đòi đáp ứng các nhu cầu của tầng lớp trung lưu.

Một ví dụ điển hình của sức ép mới trong chính sách xã hội có thể tìm thấy ở Trung Quốc. Phản ứng với dân số đang già đi nhanh chóng, giới lãnh đạo nước này đang vật lộn xây dựng một hệ thống hưu trí hiện đại, điều cho thấy một sự thay đổi từ chiến thuật truyền thống là chỉ tập trung vào tạo việc làm mới, sang duy trì ổn định xã hội và chính trị.

Tại Mỹ Latinh, những sức ép tương tự lại thể hiện theo cách khác. Mệt mỏi sau các cuộc cải cách tự do hóa trong những năm 1990 mà dường như không đem lại tăng trưởng như mong muốn, khu vực này đã chuyển sang hướng tả trong thế kỷ XXI, và các chính phủ mới đã tăng chi tiêu xã hội để giảm đói nghèo và bất công. Nhiều nước đã làm theo tấm gương thành công của Brazil và Mexico, áp dụng các mô hình chuyển tiền mặt cho các hộ gia đình nghèo (đổi lại, những người được thụ hưởng phải cho con đến trường hoặc đáp ứng một số điều kiện khác). Tại Brazil và Mexico, cách tiếp cận này đã lần đầu tiên góp phần giảm rõ rệt bất công về thu nhập trong nhiều năm liền và tạo chỗ nương tựa cho những hộ nghèo nhất vượt qua cuộc khủng hoảng mới đây.

Tất nhiên vấn đề là liệu các chương trình tương tự nhằm vào đối tượng nghèo (nhờ đó giữ cho tổng chi tiêu tài chính ở mức thấp đáng ngạc nhiên) có gặp khó khăn trong việc thu hút sự hỗ trợ lâu dài của tầng lớp trung lưu đang lớn mạnh trong khu vực hay không? Các nước này và các nền kinh tế mới nổi khác, trong đó có Trung Quốc, sẽ quản lý như thế nào chi phí tài chính cho các chương trình y tế, hưu trí và bảo hiểm xã hội rộng rãi hơn. Liệu có tốt hơn khi họ xử lý vấn đề bằng cách phối hợp với những chương trình quyền lợi chung này hay không, như kiểu vấn đề mà hiện châu Âu và Mỹ đang gặp phải khi dân số già đi?

Còn tiếp....

  • Thông tin tác giả: Nancy Birdsall là Giám đốc Trung tâm Phát triển toàn cầu. Francis Fukuyama là thành viên cấp cao tại Viện nghiên cứu quốc tế Freeman Spogli thuộc Đại học Stanford. Hai tác giả đều là biên tập viên tạp chí Những ý tưởng mới về phát triển sau khủng hoảng tài chính.

Quốc Thái dịch theo Foreign Affairs

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu