Gặp cai ngục "chuyên nhổ răng" Bảy Nhu

"Tôi đi cải tạo, nhờ tinh thần cải tạo tốt, tôi được trở về nhà với đàn con của mình sớm hơn so với "bản án" khoảng 2 năm. Thế mà người ta kéo đến, người ta dằn hắt, bảo rằng sao thằng ác ôn nó lại được tha. Tôi về, mặc áo lành người ta cũng chửi, mặc áo rách người ta cũng chửi..." Cựu cai ngục Bảy Nhu bộc bạch. sự kiện nóng

LTS: Sau khi Tuần Việt Nam đăng bài viết về người cựu tù cộng sản Vũ Minh Tằng, rất nhiều độc giả đã viết thư về tòa soạn gửi lời động viên chia sẻ với ông đồng thời hỏi thông tin về viên cựu cai ngục Bảy Nhu, kẻ đã tra tấn những người tù như ông Tằng suốt thời gian dài, hiện vẫn đang sống trên đảo Phú Quốc. Chúng tôi xin giới thiệu lại bài viết về Bảy Nhu của tác giả Phạm Thị Thao Giang, đã được đăng trên báo Tuổi trẻ Thủ đô tháng 5/2010. (Tiêu đề do Tuần VN đặt lại)

Ký ức kinh hoàng của cựu tù Phú Quốc

Ông ta năm nay 83 tuổi, tên là Trần Nhu (thường gọi Bảy Nhu), sống ẩn dật trên một quả đồi, hàng ngày ăn chay niệm Phật và nem nép với nỗi ám ảnh tội lỗi. Ông ta biết rõ mình là quỷ đội lốt người, đã hành hạ, tàn sát bao nhiêu người trẻ ưu tú của non sông Việt. Thế nên, ngay cả lúc gần đất xa trời này, Bảy Nhu vẫn cứ đeo đẳng nỗi hốt hoảng vì sợ bị "ai đó" trả thù. Bảy Nhu tuyệt đối cấm chụp ảnh mình, cực kì hạn chế tiếp xúc với... đồng loại. Bởi vậy, ít ai biết viên cai ngục kì lạ, dị mọ, quái đản cổ đeo cả một ống bơ toàn răng tù nhân đó vẫn còn... sống.

Từ thế giới "địa ngục trần gian" ở ngoài hòn đảo "thiên đường du lịch" Phú Quốc (Kiên Giang) trở về, tôi tiếp tục trò chuyện với người tù Cộng sản, ông Vũ Minh Tằng (71 tuổi, đang sống tại xã Vĩnh Hảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định). Ông Tằng mang đến "Bảo tàng Các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày" do ông Lâm Văn Bảng xây dựng (ở xã Nam Triều, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội) tặng... 9 cái răng của mình. Ông Tằng đã "phục kích" nhiều ngày, bới các đống phân của mình trong chuồng cọp biệt giam, để tìm và giữ bọc răng đó suốt hơn 30 năm ròng, sau khi tên cai ngục kia đánh gẫy của ông, bắt ông nuốt vào bụng mình toàn răng và máu...

Viên cai ngục khét tiếng một thời - Bảy Nhu trong cuộc trò chuyện với chúng tôi. Ảnh Đỗ Doãn Hoàng

Nghe tôi kể Bảy Nhu còn sống, tôi khoe ra những bức ảnh và cả tiếng đồng hồ băng ghi âm từ đảo Phú Quốc, ông Tằng nghiến những chiếc răng già hổng hoác còn lại mà khóc: "Cái thằng ấy nó chưa chết ư? Ối trời ơi, nó vẫn còn sống thật không?", rồi ông đau đớn hồi tưởng lại... 6 năm trời chết đi sống lại, bị tra tấn tàn độc bởi một bầy ác quỷ trong nhà tù.

Ông Tằng lại thở hắt ra: "Nghĩ cho cùng, Nhà nước mình để cho nó (Bảy Nhu) sống là rất nhân đạo, cũng lại hóa ra rất tốt. Nếu nó không còn sống, thì ngoài hàng nghìn người đã chết chưa kể, còn hàng vạn người bị tra tấn bằng các trò của Quỷ Sa-tăng như tôi đây, có đem kể lại chuyện bị hành hạ, bị bắn giết, vứt xuống biển hết sức kinh dị cho con cháu nghe, chửa chắc đã có ai tin. Chuyện thật mà nó cứ xa xôi như ở cõi khác, ở kiếp khác ấy. Hóa ra, cái giống quỷ như thằng Nhu, lại vẫn có ích cho... đời".

"Gậy biệt li", "Vồ sầu đời" và cái "hữu ích" của việc Bảy Nhu còn sống!

"Bảy Nhu - viên cai ngục tàn ác nhất trong lịch sử Việt Nam!" - viết như vậy, tôi biết, sẽ có người cho tôi là hồ đồ, hoặc hơi quá... xúc động, khi gọi gọi Bảy Nhu như thế. Song, độc giả cứ cho phép tôi tạm gọi như vậy, vì những lí do rất đáng xem xét sau đây: "Đào bới" suốt sử sách - tư liệu của ngàn năm lịch sử, từ thời nguyên thủy, thời phong kiến, thời bị ách xâm lược của thực dân, đế quốc, tôi chưa bao giờ nghe, đọc, xem có một tù ngục nào dã man với viên cai ngục bằng xương bằng thịt mà lại kinh thiên động địa như cặp bài trùng khét tiếng: Thượng sĩ Bảy Nhu - nhà tù Phú Quốc.

Tôi đã nhiều lần lục tìm bằng tất cả các nguồn tư liệu, sách báo, giai thoại, mà chưa thấy ở nơi nào, có lưu hành chuyện về đủ trò 24 ngón tra tấn "danh bất hư truyền" được ghi trong nhiều sử sách và... sổ sách (của nhà tù), được đặt tên "lâm li bi đát" như vậy cả (kiểu như "Vồ sầu đời", "Gậy biệt li"...).

Các trò của Quỷ sứ, gồm: Đập vỡ mắt cá chân, dùng ván và đinh ốc ép cho vỡ lồng ngực tù nhân; dùng kìm rút móng chân móng tay, dùng giẻ tẩm dầu đốt cháy... dương vật; dùng cây sắt nhổ dần từng chiếc răng chính trị phạm; thậm chí cả: Móc mắt hoặc dùng bóng điện lớn để gần mắt cho đến khi mắt chín nổ "đòm đọp" mới thôi; luộc "phạm nhân" trong chảo nước sôi cho các "bạn tù" chiêm ngưỡng...

Bạn đã nghe ở đâu có những chuyện như ở dưới ngục A Tỳ của ông Diêm Vương như thế chưa? - đấy là chưa kể, hàng nghìn nhân chứng còn sống sờ sờ ra đó với các phần thân thể tàn phế, câu chuyện của họ, những bức ảnh của họ, các hiện vật bảo tàng biết nói đang trưng bày ở Phú Quốc, TP HCM, Hà Nội. Đó là những lời tố cáo đanh thép nhất.

Ông Vũ Văn Tằng và những cái răng của mình khi đem tặng cho bảo tàng. Ảnh Đỗ Doãn Hoàng

Chiến tranh kết thúc, đảo Phú Quốc vẫn óng ả nắng vàng, vẫn mượt mà biển xanh, đích thị là một thiên đường du lịch, một con gà đẻ trứng vàng của ngành công nghiệp không khói Việt Nam trong thế kỉ 21. Nói chuyện xưa là để ngẫm chuyện nay, không hiểu sao, trong những chuyến bay TP HCM - Phú Quốc, những chuyến tàu xé toang mặt biển từ Rạch Giá đi An Thới, cái dự định tìm gặp bằng được tên đao phủ khét tiếng Trần Văn Nhu cứ ám ảnh tôi mãi.

Anh em công an, bộ đội biên phòng, giới nhà báo, văn nghệ sĩ ở TP Rạch Giá đã kể với tôi nhiều chuyện về Bảy Nhu, dù hầu hết trong số họ chưa ai trông thấy Nhu bằng xương bằng thịt bao giờ!

Chuyện nào cũng li kì, kinh dị như trong địa ngục, rồi ai cũng khuyên tôi nên bỏ ý định đi tìm Bảy Nhu. Có người bảo, ông Nhu không bao giờ chấp nhận gặp một ai nữa đâu, ông ta lánh đời, ăn chay trường, niệm Phật để mong sau này về cõi âm, đỡ phải bị "đền tội" thông qua việc bọn quỷ nó cho vào cối giã sống, hoặc hai tên quỷ ngồi hai bên, nhâm nhi cứa đứt cổ Nhu bằng một sợi dây đàn khò khử đêm ngày. Có người bảo, vì quá nhiều người muốn lén giết chết Nhu cho hả lòng lương thiện của mình, nên Nhu sống biệt tăm trong hang núi giữa một bầy chó béc-giê và hệ thống súng ống cướp được từ thời loạn lạc, ông ta dữ dằn tìm phương kế tự bảo vệ mình (?)...

Lịch sử ghi rõ: Nhà tù Phú Quốc có diện tích hơn 400ha, gồm 44 phân khu, trong 7 năm tồn tại của mình (từ năm 1966 đến 1973 khi hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được kí kết, các bên trao trả tù binh), nơi đây đã giam giữ và tra tấn tàn độc với ít nhất 40.000 tù nhân cộng sản và thường dân yêu nước, trong đó khoảng 4.000 người đã chết thảm vì những trò tra tấn tàn độc nhất, ác quỷ nhất. Thi thể của họ bị ném xuống biển hay vùi lấp ven các cánh rừng, rông núi ngoài đảo xa.

Năm 2009, tôi cũng đã có mặt, chứng kiến đội quy tập mộ liệt sỹ (k92) của Tỉnh đội Kiên Giang cất bốc, quy tập cả nghìn bộ hài cốt tù nhân ở khu vực nhà ngục Phú Quốc; vừa rồi trở lại, nhìn những cánh rừng tan hoang hang hốc bởi cuộc khai quật mồ liệt sĩ lớn nhất trong lịch sử Việt Nam đó, tôi đã khóc. Máy xúc máy ủi làm việc hết công suất, có hố chôn tập thể, gồm cả 500 bộ hài cốt, nhiều bộ xương, sau gần nửa thế kỉ bị chôn lấp, vẫn cứ đau đớn găm bên mình tới 16 cái đinh mười do cai ngục tra tấn khi xưa.

Cựu tù Vũ Minh Tằng, nhân chứng sống của các "đặc sản tra tấn" của cai ngục Bảy Nhu, Ảnh Đỗ Doãn Hoàng

Giáp mặt quỷ sống

Trong hồ sơ của Trại tù binh Cộng sản Phú Quốc, hiện còn lưu giữ hồ sơ về 24 ngón đòn tra tấn "bài bản và hiệu quả" mà các viên cai ngục đều đã thực hành, đúc rút, lưu truyền "nức tiếng".

Trong suốt mấy chục năm các ngón đòn độc địa kia đã giúp trại tù Phú Quốc vang danh với sứ mệnh của một địa ngục trần gian, nơi mà các viên cai ngục vào vai dã thú một cách hoàn hảo nhất.

Còn các công trình, tác phẩm, tư liệu của nhiều tác giả, nhiều nhân chứng viết về nhà ngục Phú Quốc thì đều nhắc đến 45 hình thức tra tấn tù nhân độc ác ngoài sức tưởng tượng, trong đó đặc biệt "choáng váng" là những trò "sáng tạo vượt bậc" do Bảy Nhu và đồng bọn quái đản của chúng áp dụng trên thân thể chính đồng bào yêu nước của chúng, thông qua các dụng cụ tra tấn "danh bất hư truyền": Vồ sầu đời và gậy biệt li. Rằng: Bị cái vồ ấy đã đụng vào là coi như sầu đời, chết ném xuống biển làm mồi cho cá dữ, sống thì cũng sầu đời mãn kiếp với các thương tật khiếp vía (vồ sầu đời); còn cái gậy ấy, ai đã bị nếm, coi như li biệt gia đình, đồng đội và cả... cõi dương gian (gậy biệt li).

Hàng chục nhân chứng đã đem thân tàn ma dại của mình ra chứng minh cho sức mạnh của gậy biệt li, vồ sầu đời, cả các cái gậy cái vồ ấy đều đã được trưng bày tại Phú Quốc và nhiều địa phương, cả những bức ảnh nạn nhân đã chết và còn sống; cả các pho tượng tạc hình nhân bị tra tấn kinh dị nhất..., tất cả hiện lên trước mắt tôi, với lời thuyết minh của các nhân viên phòng trưng bày tại Nhà tù Phú Quốc. Nhưng, ngần ấy vẫn chưa thật sự ám ảnh và khiến tôi phải mất ăn mất ngủ vì sợ hãi, như là khi tới nhà gặp và trò chuyện với Bảy Nhu, kẻ đã từng vặn hàng ngàn chiếc răng của những người tù Cộng sản...

Bảy Nhu đã trở thành người phụ trách các phân khu nhốt tù binh cộng sản, thành người trực tiếp vặn bẻ răng, lấy mắt cá chân của người tù trong suốt nhiều năm, hàng trăm người đã là nạn nhân của "trò chơi tàn độc" này. Nhiều tài liệu cho thấy, Bảy Nhu thậm chí còn sưu tầm răng mà hắn đã vặn của những người tù, hắn để trong một cái mũ sắt lố nhố "kính thưa các loại răng", hắn coi đó là một cái thú tiêu khiển. Cái "thú" súc vật và bệnh hoạn nhất mà thế gian này từng biết đến, hàng nghìn cái răng đã bị vặn "sống" như thế!

Đôi mắt lạnh, giọng nói của Bảy Nhu rít lên, hắn cầm một thanh sắt, bắt các người tù há miệng, "mày cho tao xin một cái răng, mày cho cái nào thì cứ nói thẳng ra...?".

Rồi hắn gõ mạnh, giật tới, có người tù ngất đi. Lúc tỉnh lại, Bảy Nhu bảo: Mày mà để phun giọt máu nào ra sàn nhà nữa, tao sẽ giết chết, mày hãy uống máu của mày, nuốt hết máu vào trong bụng đi nhé. Rồi thò tay vào mồm nhặt trả tao cái răng của mày. Tôi rợn người mất ngủ liền mấy đêm, khi nghe tận tai giọng kể của cụ Út Minh (đang sống ở gần nhà... Bảy Nhu ngoài đảo Phú Quốc), người tù Cộng sản kiên cường bị nhổ răng ấy.

Hàng trăm nhân chứng khác (trong đó có ông Tằng) cũng đã kể như vậy khi đến thăm lại "chiến trường xưa" Phú Quốc. Các cụ chua xót, hãi hùng tường thuật lại, ai cũng nói giống ai, đến mức, các cô hướng dẫn viên du lịch về nguồn ở Nhà tù Phú Quốc nghe đã quá quen thuộc. Nhiều người nghe tin Bảy Nhu còn sống thì hùng hổ leo đồi đi tìm đòi... "giết chết nó". Nhưng khi thấy Bảy Nhu ăn chay, niệm Phật, già nua quá thể, cũng già nua như chính những người tù còn sót lại đến hôm nay thì họ đã bật khóc, ngẫm trả thù cũng chả để làm gì nữa...

Trở lại nhân chứng, người tù Cộng sản Nhà tù Phú Quốc bị vặn răng tên là Út Minh. Khi đoàn khai quật cả nghìn bộ hài cốt ngoài Tượng đài Nắm Đấm (gần nhà tù) đang rầm rộ dùng máy xúc máy ủi bóc đất đá tìm kiếm các phần thi thể của bốn nghìn người tù Cộng sản bị chôn vùi dưới 5-6 mét đất sâu, thì có một người lính già, mặc quân phục bạc màu đến miệng hố ngồi bần thần, gườm gườm nhìn Bảy Nhu, khi ông Nhu đang được "trưng dụng" tìm chỉ các hố chôn tập thể. Thấy Nhu "bốc phét" nhiều quá, cụ Út Minh mất bình tĩnh, vác gậy dồn đuổi, chửi bới lanh tanh bành. Một cụ già đuổi một cụ già lẩy bẩy, cụ già Nhu sợ hãi trốn mất.

Nhà tù Phú Quốc hôm nay. Ảnh Đỗ Doãn Hoàng

Thượng tá Nguyễn Văn Cao (Tỉnh đội Kiên Giang), người phụ trách công trường khai quật thấy kì lạ, bèn bắt chuyện. Ông Út Minh căm phẫn kể: Sau nhiều năm ở nhà tù, lúc giải phóng (1975), ông đã quyết tâm sống ở gần khu vực... hố khai quật, vì nỗi ám ảnh địa ngục trần gian. Địch đã giam ông 6 năm, qua sáu bảy cái "phân khu" tù binh, đến năm 1973, mới được địch mang ra tận sông Thạch Hãn (Quảng Trị) trao trả. Ông trực tiếp bị chính Bảy Nhu (người hàng xóm hiện nay) tra tấn bằng cách đè ra nhổ mất 6 cái răng.

"Tôi nằm trong tù từ năm 1966, suốt gần 7 năm, tui chỉ dám tính đường chết, chứ tịnh không có dám tính đường sống. Nó bắt tôi há mồm, hỏi cho xin cái răng, cho cái nào? Tôi chán quá, bảo: Ông lấy cái nào thì lấy, cái nào chẳng là răng... của ông! Nó ghè thanh sắt vào, nhổ răng tôi. Giật gẫy, nó bắt tôi thò tay vào miệng mình lôi từng cái răng đỏ quạch máu ra, đặt lên bàn cho nó xem. Rồi nó bắt tôi phải tự uống hết số máu chảy trong miệng tôi ra, một giọt nào ứa ra ngoài, nó sẽ đánh chết" - cụ Út Minh nói, giống như những gì mà cụ Tằng đã kể với tôi, dù hai người chưa bao giờ biết đến nhau, dù từ sau khi được phóng thích, cụ Tằng chưa bao giờ trở lại Phú Quốc.

Những chiếc răng xấu số đã lên tiếng.

Tôi đem những câu chuyện đó ra hỏi ông Bảy Nhu. Những tưởng viên cai ngục khi xưa, ông già lạnh lùng và tinh quái hôm nay sẽ "cãi bay cối đá", sẽ dùng đủ mọi thủ thuật "hỏi cung" tù binh độ nọ để biện minh cho các hành vi tàn ác "lẫy lừng" của mình. Không ngờ, ông già Nhu rất điềm đạm, rất ưu thời để rồi... công nhận tất cả.

Bảy Nhu sau khi hoàn thành "sứ mệnh" tra tấn tù nhân tàn ác, trở về với đời thường và người thân, Ảnh Đỗ Doãn Hoàng

Căn nhà nằm biệt lập trong đồi bạch đàn, con đường đất đỏ, rậm rịt, tối om, nồng nã mùi lá mục dẫn tôi và ông Hai Nam (người đưa đường, cũng là một tiếp phẩm của trại tù binh Phú Quốc khi xưa, từng đi cải tạo về và nay tham gia nhiều hoạt động xã hội hữu ích, được chính quyền cơ sở và các đoàn thể hiện nay tặng rất nhiều giấy khen, bằng khen; là chủ hãng nước mắm Nam Hương nổi tiếng ở Phú Quốc) vào nhà Trần Văn Nhu.

Để có được cuộc trò chuyện giữa tôi và ông Nhu, điều không thể thiếu là các cuộc gọi điện thoại "dọn đường" đầy năn nỉ của ông Hai Nam, bởi ông Nhu tin ông Nam lắm, chẳng gì thì giữa cô đơn, mặc cảm quá lớn ngoài hòn đảo bé nhỏ này, ông Nhu vẫn coi ông Hai Nam là "cùng hội cùng thuyền" với mình. Ông Nam dặn tôi kĩ càng, mua quà gì, nói thế nào, đừng nhắc tới cái gì và muốn ghi âm, chụp ảnh thì phải làm lén ra sao.

Bảy Nhu nói: "Tôi quê ở Đồng Tháp, tôi cũng con nhà tử tế lắm chớ. Nhưng tôi sinh ra, bị "bọn chúng nó" (Mỹ - Ngụy) bắt phải đi lính, rồi đời nó lầm lạc như vậy đó. Sinh năm 1926, năm 20 tuổi tôi đã bị giặc "tổng động viên", phục vụ trong chính quyền Ngụy rất là khổ sở. Năm 1967, khi Trại tù binh Cộng sản Phú Quốc (Nhà tù Phú Quốc) vừa mới được chính quyền Sài Gòn thành lập, tôi được "chúng nó" điều ra hòn đảo này. Lúc đầu, nó bảo, ra đảo 3 tháng sẽ được về với vợ ở Sài Gòn, rồi 6 tháng, rồi ở suốt 7 năm ròng, tôi phải làm "đao phủ" ở đó cho đến khi nhà tù giải thể luôn (năm 1973).

"... Sau giải phóng, nhiều người rủ tôi về Đồng Tháp sống để quên hẳn cái chỗ tội ác kinh khủng này đi, nhưng tôi không về. Dẫu thế nào, thì cuộc đời tôi đã gắn bó với vùng đảo này. Đã 4 lần các thế lực ở Mỹ muốn tôi nhập cảnh sang bên đó, để "đền đáp" những cống hiến của tôi với "đế quốc" và chính quyền Sài Gòn cũ (?); nhưng, tôi đã không đi, tôi muốn ở lại đây, tôi muốn chết ở đây. Tôi nói lại nhé: Gia đình tôi ở Đồng Tháp, có em trai, chị dâu, cháu tôi đều tham gia hoạt động cách mạng, là những người Cộng sản chân chính (?); vì thế, lúc tôi mới ra đây làm quản lí nhà tù, các "ông" (chính quyền Sài Gòn cũ) thử thách tôi ghê lắm, họ theo dõi tôi từng li từng tí. Vì thế, tôi phải nỗ lực làm việc (tra tấn tù nhân thật tàn ác?), để chứng minh là mình hết lòng trung thành với họ. Kẻo họ sẽ thủ tiêu tôi. Dần dà...". Ông Nhu bỏ lửng câu nói, hình như trong đầu ông lại thêm một lần lặp lại câu hỏi đầy nghi kị "Cháu là nhà báo phải không". Có lẽ, nếu cứ để ông Nhu nói, ông sẽ kể: "Dần dà, tôi mới tàn ác như thế chứ, mới đeo ống bơ đi "xin răng" và xin mắt cá bà con nước Việt mình, của những người yêu nước chân chính ở "địa ngục trần gian" như thế chứ" (!!!).

Oái oăm và tình cờ thay, khi gặp chúng tôi, Bảy Nhu cũng bị bệnh khớp hành hạ ghê lắm, đi cà nhắc y như... vợ ông Tằng. Nhà khó khăn, đàn con cháu, người tai nạn chết, người sống nghèo ít học khắp nơi. Song, dường như sự thanh bần nào đó, sự chay tịnh niệm Phật vớt vát cuối đời nào đó của Nhu cũng đã là sự ưu ái quá lớn của xã hội ta, của số phận với Bảy Nhu rồi. Trước lúc chia tay, run run nhận món quà của người khách xa, Bảy Nhu hồ hởi khoe: thế là nội ngoại tôi có đủ 6 đứa cháu rồi. Tôi muộn đường con cái, vì lúc ở ngoài đảo, cuộc sống chẳng khác gì các tù nhân, tôi có được gần vợ đâu mà đẻ. Vợ ở tít mãi Sài Gòn.

"Tôi đi cải tạo, nhờ tinh thần cải tạo tốt, tôi được trở về nhà với đàn con của mình sớm hơn so với "bản án" khoảng 2 năm. Thế mà người ta kéo đến, người ta dằn hắt, bảo rằng sao thằng ác ôn nó lại được tha về. Tôi về, mặc áo lành người ta cũng chửi, mặc áo rách người ta cũng chửi. Nhiều người cứ xông lên đòi giết chết tôi. Chính quyền cơ sở đã bảo vệ tôi. Sau này, tôi thấm thía hai chữ "Đồng bào" của người Việt Nam mình, họ tha thứ cho tôi. Nghe nói ở nước ngoài, chữ Đồng bào không dịch được ra tiếng Tây, quý hóa lắm. Tôi tình nguyện làm công tác xã hội để chuộc lỗi lầm là vì thế" - Bảy Nhu tỏ ra xúc động nói...

***

Sau khi bài viết về ông Vũ Minh Tằng được đăng tải trên Tuần Việt Nam, nhiều độc giả đã hỏi địa chỉ của ông với mong muốn được giúp đỡ chia sẻ. Chúng tôi trân trọng cảm ơn tấm lòng của quý vị độc giả và xin đáp ứng ngay đề nghị đáng trân trọng này.

Ông Vũ Minh Tằng
Thôn Tiên Hào, xã Vĩnh Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Điện thoại: 0350 3991805

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu