Nỗi buồn mang tên Adagio for Strings

Từ đầu đến cuối, bản nhạc tạo ra cảm giác về tính vững chãi, sự liên tục trong dòng chảy của giai điệu, và khiến người nghe hài lòng về kết cấu - đó chính là Adagio for Strings, một tác phẩm lớn trong thời kỳ âm nhạc cổ điển đương đại.

*****

Tác phẩm: Adagio for Strings, op.11

Tác giả: Samuel Barber

Thể hiện: Los Angeles Philharmonic Orchestra (Chỉ huy: Leonard Bernstein)

*****

"Con viết cho mẹ để kể về nỗi lo lắng thầm kín bấy lâu trong con. Giờ thì đừng khóc khi mẹ đọc nó, bởi nó không phải là lỗi của mẹ cũng như của con. Con tin rằng con sẽ nói về nó ngay bây giờ mà không một chút vòng vo gì cả. Để bắt đầu con phải nói rằng con không muốn trở thành một vận động viên. Con muốn trở thành một nhà soạn nhạc, và con chắc chắn về điều đó. Con sẽ nói với mẹ thêm một điều nữa. Đừng khuyên con quên đi ý nghĩ khó ưa này và hãy chơi bóng đá. Con xin mẹ đấy. Đôi khi nó khiến con bị lo lắng nhiều đến mức làm con cảm thấy bực bội (nhưng tất nhiên không đến nỗi tức điên lên)." Đó là những dòng trong lá thư mà Barber viết cho mẹ mình vào năm lên 9 tuổi.

Samuel Osborne Barber (1910-1981) là một nhà soạn nhạc người Mỹ. Ông viết các tác phẩm dành cho dàn nhạc, opera, hợp xướng và piano. Bản Adagio for Strings nằm trong số những tác phẩm phổ biến nhất của ông và thường được ví như một tác phẩm lớn trong thời kỳ âm nhạc cổ điển đương đại.

Barber sinh ra trong một gia đình tri thức và sung túc. Cha ông là bác sĩ, mẹ ông là nghệ sĩ piano và người cô của ông, Louise Homer, là giọng nữ trầm hàng đầu tại Metropolitan. Barber cảm thấy yêu thích sâu sắc với âm nhạc khi ông còn nhỏ tuổi. Năm lên 7, bản nhạc đầu tay của ông được ra đời, và 3 năm sau là một bản opera. Ông là nghệ sĩ organ vào năm lên 12 và khi lên 14 tuổi, ông được nhận vào Curtis Institute, nơi ông được học piano, sáng tác và thanh nhạc.

Từ khi còn nhỏ tới quãng tuổi 20, Barber viết rất nhiều tác phẩm thành công, đưa ông trở thành một điểm sáng được chú ý trong mảng âm nhạc cổ điển. Rất nhiều sáng tác của ông được chọn chơi hoặc trình diễn lần đầu tiên bởi những nghệ sĩ danh tiếng như Vladimir Horowitz, Eleanor Steber, Raya Garbousova, John Browning, Leontyne Price, Pierre Bernac, Francis Poulenc, và Dietrich Fischer-Dieskau.

Barber giành được giải thưởng Pulitzer hai lần: một lần vào năm 1958 với vở opera đầu tay Vanessa, và lần thứ hai vào năm 1963 cho bản Concerto dành cho piano và dàn nhạc. Ông còn giữ chức chủ tịch của Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (IMC) thuộc UNESCO, và là thành viên của Viện Hàn lâm Văn học và Nghệ thuật Hoa Kỳ.

Phong cách sáng tác của Barber dành được nhiều lời ngợi khen bởi sự logic trong âm nhạc cũng như sự khôn ngoan trong xây dựng cấu trúc một tác phẩm của ông. Bản Adagio for Strings nguyên bản là chương hai trong Tứ tấu đàn dây số 1, op.11, được sáng tác năm 1936.

Vào tháng 1 năm 1938, Barber gửi tác phẩm của mình cho Arturo Toscanini. Vị nhạc trưởng danh tiếng thế giới này đã gửi trả lại bản nhạc mà không kèm theo bất kỳ một lời nào. Barber đã hết sức tức giận và không tiếp xúc với Toscanini cho đến khi biết được Toscanini nói người bạn của mình rằng ông đang có kế hoạch biểu diễn tác phẩm này, và việc trả lại nó chỉ đơn giản bởi ông đã ghi nhớ trong đầu mà thôi. Tác phẩm được biểu diễn lần đầu tiên trên sóng radio với sự chỉ huy của Arturo Toscanini cùng dàn nhạc giao hưởng NBC vào ngày 5/11/1938. Bản thu âm buổi công diễn đầu tiên năm 1938 được Thư viện Quốc hội Hoa kỳ chọn để bảo bảo vĩnh viễn vào năm 2005.

Sự xúc động mãnh liệt, đó là cảm giác không thể chối bỏ khi nghe bản Adagio for Strings này. Ở đó, Barber đã tạo nên một thứ giống như một bài ca tráng lệ với quãng rộng những hợp âm. Sự hài hòa cân đối của chủ đề cùng với sự chuyển động không ngừng trong nhịp điệu mà nó hàm chứa đưa ta đến những cung bậc khát khao, cay đắng và rồi nhẹ trôi trong một cái kết êm đềm.

Mở đầu tác phẩm là một giai điệu của nỗi luyến tiếc về quá khứ với chuỗi hợp âm kéo dài, mượt như nhung song hành cùng chủ đề. Barber đã khéo léo gợi lên những tình cảm khát khao bằng việc sử dụng những hợp âm trội hẳn lên, trong khi giai điệu vẫn dần lên cao với những quãng âm. Cứ như vậy, những cung bậc cảm xúc nhẹ nhàng được đẩy lên cùng với giai điệu êm ả lặp lại từ phần đầu của chủ đề. Sự phức tạp được cảm nhận một cách rõ rệt khi Barber bổ sung kết cấu với sự đan xen của những bè khác nhau. Từ từ vươn tới cữ giọng cao nhất cho phép, những nhạc cụ dây vang lên với sức mạnh lớn nhất của mình, căng vút và lạnh lẽo.

Âm thanh đột ngột lặng im ở quãng âm cao nhất, để lại một khoảng không trống vắng khiến ta như bồng bềnh nhẹ trôi trong vẻ đẹp của xúc cảm. Sự êm đềm, yên ả nhẹ nhàng quay trở lại như một sự phục sinh. Sau hành trình mãnh liệt về cảm xúc của tác phẩm, giờ đây chủ đề chính được tái hiện với một vẻ êm đềm và điềm tĩnh...

Bản nhạc được chơi tại đám tang hoàng tử Monaco là Rainier và đám tang của Albert Einstein, cũng như trên sóng trên radio trong thông cáo cái chết của Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt. Nó còn được diễn vào năm 2001 trong một nghi lễ ở Royal Albert Hall để tưởng nhớ nạn nhân của vụ tấn công ngày 11/9. Năm 2004, các thính giả của chương trình BBC's Today đã bầu Adagio for Strings là "bản nhạc cổ điển buồn nhất", trên cả Dido's Lament trong vở opera Dido and Aeneas của Henry Purcell, chương Adagietto trong giao hưởng số 5 của Gustav Mahler, và Metamorphosen của Richard Strauss.

Adagio for Strings có thể được nghe trong rất nhiều bộ phim cũng như những bản thu trên TV, như bộ phim đạt giải Oscar Platoon của Oliver Stone, phim The Elephant Man của David Lynch được đề cử giải Oscar năm 1980, phim tư liệu Sicko của Michael Moore, hay bộ phim Amélie được đề cử Oscar năm 2001 của Jean-Pierre Jeunet.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu