Những nhà ngoại giao - Phía sau vẻ bề ngoài của các sứ quán Pháp

Cuốn sách gần 400 trang đem lại cho độc giả một chân dung hiện tại vừa chi tiết, vừa tổng hợp của nền ngoại giao Pháp. Pháp đứng vị trí thứ hai trên thế giới, sau Mỹ và ngay trước Đức cũng như Anh, với một hệ thống dày đặc các sứ quán và cơ quan đại diện ngoại giao. sự kiện nóng

*****

"Những nhà ngoại giao - Phía sau vẻ bề ngoài của các sứ quán Pháp" (Les diplomates - Derrière la façade des ambassades de France) do nhà xuất bản Nouveau Monde phát hành ngày 3/6/2010 đang gây dư luận trong giới ngoại giao Pháp. Những thông tin từ cuốn sách cũng như những bình luận đang nhanh chóng lan truyền trong 160 sứ quán và vô số cơ quan đại diện ngoại giao của Pháp trên thế giới.

Tác giả Franck Renaud, sống và làm việc tại châu Á từ hơn 10 năm nay. Vốn là phóng viên điều tra các vụ án lớn nhỏ của nhật báo địa phương lớn nhất nước Pháp Ouest-France (từ 800 000 đến 1 triệu bản/ngày), ông hoạt động ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan, Đông Timor với tư cách giảng viên báo chí và phụ trách dự án hợp tác trong lĩnh vực truyền thông.

Cuốn sách gần 400 trang đem lại cho độc giả một chân dung hiện tại vừa chi tiết, vừa tổng hợp của nền ngoại giao Pháp. Pháp đứng vị trí thứ hai trên thế giới, sau Mỹ và ngay trước Đức cũng như Anh, với một hệ thống dày đặc các sứ quán và cơ quan đại diện ngoại giao.

Điều tra của Franck Renaud mang lại thông tin về những người phụ nữ và đàn ông, dù ở vị trí đại sứ hay chỉ là nhân viên, đã và đang nỗ lực củng cố vị trí của nước Pháp, bảo vệ quyền lợi của công dân Pháp ở nước ngoài cũng như xây dựng những mối quan hệ bền vững và cùng có lợi với các quốc gia khác.

Cuốn sách cũng chỉ ra những yếu kém của nền ngoại giao Pháp, qua những con người cụ thể và những chính sách khó hiểu. Ngân sách thường xuyên bị cắt giảm, bất bình đẳng giữa các nhân viên ngoại giao, những can thiệp "nhất thân nhì thế", thiếu thận trọng trong an ninh và chưa kể luật "im lặng" ormeta trùm lên những xì-căng-đan liên quan đến việc bổ nhiệm, tham nhũng, thất thoát tài sản, lãng phí, tư lợi hay cả quan hệ tình dục với trẻ em.

Tác giả Franck Renaud và cuốn sách "Những nhà ngoại giao - Phía sau vẻ bề ngoài của các sứ quán Pháp". Ảnh: Le Monde

Tuy nhiên, Franck Renaud không hề lạm dụng những xì-căng-đan này để thu hút độc giả. Cuốn sách là một điều tra báo chí nghiêm túc với vô số phỏng vấn nhân chứng là những người làm trong ngành ngoại giao cũng như trong lĩnh vực hợp tác; với những con số chi tiết, những phát hiện mới mẻ; thông qua những phân tích hay tổng hợp các tài liệu, sách báo liên quan đến chủ đề.

Được sự đồng ý của tác giả và được nhà xuất bản Nouveau Monde cho phép, chúng tôi lược dịch một vài trang của cuốn sách này.

Kỳ 1: Hợp tác không đầu không đuôi

Chính sách hợp tác của nước Pháp tại các nước đang phát triển tuân theo logic nào?

Tính toán những nhu cầu và mong đợi; so sánh với những ưu tiên của Pháp; gia giảm chút "Mục tiêu thiên niên kỷ về phát triển" trong lĩnh vực giảm nghèo đói, giáo dục, y tế... Ta có trọn gói một tài liệu với tên gọi "văn bản khung đối tác" (DCP), thường được hai Nhà nước ký kết cho thời hạn 5 năm. Nó đặt mốc cho sự hợp tác của các năm tiếp theo, vừa là kim chỉ nam vừa là minh chứng cho những cam kết của hai quốc gia.

"Những văn bản này giúp có một định hướng chiến lược thích đáng hơn đối với các dự án hỗ trợ công về phát triển của nước Pháp(...). Những DCP tạo cơ hội cho hỗ trợ của Pháp rõ ràng hơn, mang tính đối tác hơn và dễ dự đoán hơn, như vậy tăng hiệu quả của các hỗ trợ này." (trích bản giới thiệu về DCP trên web của Bộ ngoại giao Pháp).

(...) Ở Việt Nam, một DCP đã được ký kết ngày 15/9/2006 bởi một bên là bà Brigitte Giradin, quốc vụ khanh về Hợp tác, Phát triển và Pháp ngữ, và bên kia là ông Võ Hồng Phúc, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan quản lý những dự án hỗ trợ công cho phát triển. Văn bản này có giá trị đến hết năm 2010 (...)

Vào thời điểm DCP Việt - Pháp này được ký kết, hai dự án đang được triển khai. Một liên quan đến "khoa học xã hội" và một về đào tạo nghiệp vụ cho phóng viên của Việt Nam. Dự án thứ nhất có thời gian dự kiến là 55 tháng (hay 4 năm và 9 tháng) với 1,7 triệu euro ngân sách. Dự án thứ hai định hoàn thành sau 3 năm (trên thực tế nó kéo dài 5 năm) với 911.000 euro. Hai dự án này chính là hai ví dụ về những "thất hứa" của nước Pháp trong lĩnh vực hợp tác, ngay cả khi những lời hứa hẹn được thể hiện trên giấy trắng mực đen. Chúng cũng minh chứng cho tầm nhìn hạn hẹp của vài nhà ngoại giao, mặc dù, đúng là họ có bị sức ép về ngân sách.

***

Ngay từ đầu những năm 1990, Pháp đã có những hoạt động hợp tác với báo chí Việt Nam. Một sự hợp tác nhiều ý nghĩa tại một quốc gia nơi báo chí vẫn chịu sự kiểm soát chặt chẽ nhưng phát triển mạnh mẽ và đã có độc giả trung thành. Sự hợp tác trên là câu trả lời cho đề xuất của một cơ quan chuyên môn, Hội nhà báo Việt Nam (HNB). Một trong những nhiệm vụ của Hội là bồi dưỡng nghiệp vụ cho phóng viên. Những khoá học đầu tiên dựa hoàn toàn trên thực hành được tổ chức với một giảng viên từ Pháp qua và một nhóm nhỏ phóng viên.

Thành công của chúng khiến Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam quyết định tài trợ một chương trình bồi dưỡng kéo dài 1 năm với đối tác là HNB. Dự án gây tiếng vang và các phóng viên Việt Nam tham gia các khoá bồi dưỡng bày tỏ sự hài lòng của họ về các cách tác nghiệp khác mà họ thu hoạch từ giảng viên.

Cuối những năm 1990, đại sứ quán Pháp đề xuất sử dụng một "công cụ mới" về hợp tác: FSP hay Quỹ đoàn kết ưu tiên. Các FSP đồng thời triển khai trên 50 nước, tài trợ cho các dự án kéo dài nhiều năm dưới dạng viên trợ không hoàn lại (...). Thế là dự án FSP 2000-105 ra đời tại Hà Nội, "Hỗ trợ xây dựng trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ" của HNB. Theo tính toán, dự án kéo dài 3 năm, nhằm giúp đối tác Việt Nam là HNB củng cố cấu trúc trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ, triển khai các khoá đào tạo, trang bị thiết bị kỹ thuật cho trung tâm và ưu tiên đào tạo giảng viên báo chí... Ngân sách dự kiến: 911.568,70 euro.

FSP này được hai đối tác Pháp và Việt Nam ký kết tháng 10/2002, nhân chuyến thăm của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tại Pháp. Nó khởi động khó khăn. Năm 2003 và 2004, những điều chỉnh ngân sách tại Pháp ảnh hưởng đến dự án FSP báo chí... Đại diện dự án người Pháp làm việc rất nhiều tháng... không lương, để tránh việc dự án bị cắt!

Cuối cùng, dự án cũng thực sự đi vào hoạt động với hơn 50 khoá bồi dưỡng cho hơn 650 phóng viên từ trung ương đến địa phương. Bản đánh giá dự án (do chính bộ Ngoại giao Pháp đặt hàng) nhấn mạnh đến "tính hiệu quả cao" do chính những người thụ hưởng nêu lên.

Người làm điều tra và viết báo cáo là một phóng viên tự do đã hoạt động tại Đông Nam Á từ nhiều năm và hiểu rõ những thách thức tại khu vực này. Ông gửi một số khuyến nghị đến đại sứ quán và bộ Ngoại giao Pháp trong đó có đề nghị tiếp tục các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ cho phóng viên và tăng cường đào tạo dành cho cán bộ quản lý các phương tiện truyền thông cũng như các cán bộ chuyên môn các tòa soạn. Mục tiêu: đồng hành trong quá trình hiện đại hóa của báo chí ở Việt Nam. Kết quả: trắng trơn hoặc gần như thế.

Năm 2008, Pháp tài trợ 3 khoá bồi dưỡng. Sau đó là số 0. Nước Pháp rút khỏi hợp tác trong lĩnh vực báo chí mà không có một lời tạm biệt. Kể từ đó, chưa bao giờ một đại diện của đại sứ quán xin gặp đối tác Việt Nam cũng như chưa bao giờ thông báo chính thức cho phụ trách dự án người Pháp về chuyện chấm dứt dự án.

Đối tác Việt Nam, Hội nhà báo, chỉ còn biết bày tỏ sự thất vọng. Nước Pháp từ bỏ một cách lặng lẽ một lĩnh vực... mà nhiều nước khác rất vui mừng tiếp nhận. Những lời hứa của nước Pháp đâu rồi? Chúng đã bị quên lãng trong một góc khuất nào đó. Quả là có chuyện thay đổi nhân sự tại đại sứ quán giữa năm 2007: đại sứ mới, tham tán văn hoá mới... Cả hai vị này đều không quan tâm gì đến dự án "báo chí". Và cũng không cảm thấy bị ràng buộc bởi những cam kết của những người tiền nhiệm. Sự tiếp nối hoạt động của Nhà nước dừng lại trước cánh cổng các đại sứ quán? (Phép vua thua lệ làng?)

Bìa cuốn sách, nguồn ảnh: Amazon

Trong 15 năm, nước Pháp từng hiện diện mạnh mẽ trong hợp tác với báo chí Việt Nam. Một quốc gia khác "đầu tư' vào lĩnh vực này, cùng thời gian, là Thụy Điển. Thông qua cơ quan hợp tác SIDA (Swedish International Development Cooperation Agency), Thụy Điển đào tạo số lượng lớn phóng viên các đài phát thanh địa phương của 34 tỉnh thành và quan tâm đến các nhà quản lý báo chí. Hoạt động này diễn ra trong 16 năm, từ 1993 đến 2009.

Tại đại sứ quán Thụy Điển, những thay đổi nhân sự không ảnh hưởng đến các dự án. Thụy Điển còn tiếp tục giai đoạn 2 của dự án, từ 2010 đến 2013 để bồi dưỡng cho... các nhà quản lý báo chí. Họ trao gửi hoạt động này cho Hiệp hội các tờ báo viết thế giới. Những hứa hẹn đã được thực hiện và mục tiêu rõ ràng: giai đoạn 2 cũng sẽ là giai đoạn cuối cùng. SIDA sẽ rời lĩnh vực báo chí ở Việt Nam năm 2013. Sẽ không có bất ngờ khó chịu nào cho các đối tác Việt Nam.

***

(...) Tháng 7 năm 2003, dự án "Hỗ trợ nghiên cứu về những ảnh hưởng của quá độ kinh tế và xã hội tại Việt Nam" hay còn gọi là "FSP khoa học xã hội" khởi động. Dự án dự tính kéo dài 55 tháng với ngân sách 1,7 triệu euro. Đối tác phía Việt Nam là một cơ quan có chức năng ngang cấp bộ: Viện khoa học xã hội Việt Nam.

Dự án gồm hai hướng: hỗ trợ nghiên cứu và đào tạo về nghiên cứu; công bố các kết quả nghiên cứu đã tiến hành thông qua các họi thảo hay ấn phẩm. Cụ thể hơn, dự án muốn tìm ra 10 nghiên cứu sinh Việt Nam -  một số sẽ phải học tiếng Pháp - và theo họ trong quá trình hoàn thành luận án tiến sĩ viết bằng tiếng Pháp. Dự án sẽ cấp học bổng cho 10 nghiên cứu sinh này cũng như tài trợ những chuyến đi ngắn qua Pháp để làm việc với các giáo viên hướng dẫn luận án. Mỗi năm, chất lượng công việc của từng người sẽ được đánh giá bởi một hội đồng khoa học.

Đến quý IV năm 2008 thì ôi thôi! Đại sứ quán thông báo cho trưởng dự án rằng dự án sẽ dừng vào tháng 5/2009. Sau 55 tháng - trong khi một số FSP khác được kéo dài hơn -, nhưng mới chỉ giải ngân... 68% số tiền dự kiến! Điều này giúp cho nước Pháp "tiết kiệm" khoản hơn 536 000 euro. "Tất nhiên có thể coi là thời gian dự án đã đạt được, một nhà khoa học Pháp thở dài. Nhưng Pháp cũng đã cam kết về tiền bạc và hoàn toàn có thể thấy nước Pháp đã không tôn trọng cam kết ấy".

Nhưng, hậu quả nghiêm trọng nhất có lẽ không chỉ có thế. Những nghiên cứu sinh Việt Nam đột nhiên bị "đem con bỏ chợ" với các dự án nghiên cứu dang dở. Đại sứ quán Pháp hỗ trợ việc thực hiện một luận án tiến sĩ với thời hạn 3 năm nhưng quên mất là tiêu chí này áp dụng trên hết cho nước Pháp, cho những người thông thạo tiếng Pháp... Và tất nhiên đại sứ quán không hề tính đến những khó khăn mà một nghiên cứu sinh Việt Nam có thể gặp khi nghiên cứu "điền dã" cũng như thu thập thông tin...

Ngày 14/11/2008, các nhà nghiên cứu Pháp trong dự án "FSP khoa học xã hội" và các đối tác Việt Nam gửi thư cho đại sứ Pháp Hervé Bolot, đồng thời công bố rộng rãi lá thư này tại Bộ Ngoại giao Pháp. "Các nghiên cứu sinh Việt Nam của dự án sẽ bị cắt học bổng và rơi vào hoàn cảnh không thể hoàn thành luận án tiến sĩ. Các nhóm làm việc Pháp - Việt sẽ không thể hoàn chỉnh các công việc nghiên cứu từ nhiều năm nay".

Sau hơn một tháng, ngày 17/12/2008, đại diện nước Pháp trả lời bức thư này (Xin lưu ý là ông Chủ tịch Viện khoa học xã hội Việt Nam Đỗ Hoài Nam cũng đã gửi thư cho đại sứ Pháp ngày 28/10/2008. Ông không hề nhận được phúc đáp nào). Vị đại sứ viết: "Việc dự án dừng lại ngày 7/5/2009 không phải là kết quả của một quyết định mới đây và cũng không nên coi đó là một điều bất ngờ, bởi thời điểm này đã từng được định trước bằng văn bản và thống nhất với chính quyền Việt Nam (...). Thời gian dành cho các phụ trách dự án để xác định, khởi động, triển khai và hoàn thành các công việc, bao gồm cả các chương trình nghiên cứu, theo tôi là hợp lý".

Tóm lại, hồi kết của dự án đã được diễn xong. Và một lần nữa, sứ quán lại không tham gia vào phiên họp cuối cùng của ban chỉ đạo FSP này, dù chỉ là để thông báo chính thức với phía Việt Nam. Nước Pháp rút lui, Không cảm ơn cũng chẳng chào tạm biệt đối tác.

Những trường hợp như trên không hy hữu. Hợp tác Pháp còn quá gắn với tính cách cá nhân và lợi ích (hay không) của những nhà ngoại giao, vốn chỉ đến rồi lại đi. Ta có thể đặt ra nghi ngờ về những cam kết của những DCP (văn bản khung đối tác). Mốc hợp tác hay hỏa mù? Một phó giám đốc của Ban hợp tác quốc tế và phát triển bộ Ngoại giao Pháp đã về hưu không ngần ngại khi đặt câu hỏi không hề ngoại giao: "Ta tự vấn liệu chữ ký của các vị bộ trưởng có còn chút giá trị gì không?".

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu