Cứu môi trường vùng khai khoáng

Do quá chú trọng vào phát triển kinh tế, nhất là tăng trưởng GDP, các tổ chức tham gia hoạt động khoáng sản ít chú ý tới bảo vệ môi trường. sự kiện nóng

Đã có "bột..."

Luật Khoáng sản năm 1996 (Điều 16) quy định: "Tổ chức cá nhân được phép hoạt động khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị để hạn chế tối đa tác động xấu đến môi trường, thực hiện phục hồi môi trường sau kết thúc từng giai đoạn hoạt động. Tổ chức hoạt động khoáng sản chịu mọi chi phí bảo vệ, phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai". Nhưng trên thực tế, do chú trọng vào phát triển kinh tế, nhất là tăng trưởng GDP, các tổ chức tham gia hoạt động khoáng sản ít chú ý tới bảo vệ môi trường.

Vậy mà, tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi gây suy thoái môi trường và làm mất cân bằng hệ sinh thái đang diễn ra ở nhiều nơi. Trong đó nạn phá rừng, huỷ hoại bề mặt đất và hệ thống thuỷ văn, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất canh tác và không khí, phá vỡ các khu sinh thái làm ảnh hướng đến hoạt động của các ngành kinh tế khác như nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, du lịch.

Hơn nữa, công nghệ khai thác hiện nay chưa hợp lý, đặc biệt các mỏ kim loại và các khu mỏ đang khai thác hầu hết nằm ở vùng núi và trung du. Vì vậy, mức độ gây ô nhiễm và làm suy thoái môi trường càng trở nên nghiêm trọng.

Ngoài ra, các văn bản dưới Luật cho các dự án liên quan đến khai thác, chế biến khoáng sản đều quy định phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của Luật BVMT.

Để làm căn cứ cho việc xác định chi phí BVMT và cải tạo phục hồi môi trường trong báo cáo ĐTM, Chính phủ đã ban hành Nghị định 63/2008/NĐ-CP (trước đây là 137/2005/NĐ-CP) quy định về phí BVMT trong hoạt động khoáng sản và Quyết định 71/2008/QĐ-TTg (trước đây là Thông tư liên Bộ 126/1999/TTLT - BTC-BCN-KHCN&MT) quy định về việc lập dự án cải tạo và ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản.

Khai thác vàng làm ô nhiễm nguồn nước. Ảnh: vfej
Tuy nhiên các văn bản hướng dẫn này ban hành chậm (ban hành năm 1999, sau 4 năm kể từ khi ban hành Lụât khoáng sản) nên ảnh hưởng đến tiến độ lập và chất lượng của các báo cáo ĐTM.

Ngoài ra, hoạt động khoáng sản còn có thể thải chất thải rắn độc hại và nước thải nguy hại cho nên các tổ chức cá nhân khai thác chế biến khoáng còn phải tuân thủ nộp phí thải chất thải rắn theo Nghị định 174/2007/NĐ-CP và phí thải nước thải nguy hại theo Nghị định 67/2003/NĐ-CP.

Nhưng chưa "gột nên hồ"

Đối với việc đánh giá tác động môi trường, hầu hết các dự án khai thác chế biến khoáng sản đều đã thực hiện lập ĐTM theo quy định hoặc được lập ĐTM bổ sung đối với các dự án trước khi có lụât BVMT năm 1993. Trong khi đó có nhiều Quy hoạch liên quan đến khoáng sản kể cả cấp Trung ương (như quy hoạch thăm dò khai thác, chế biến bô xít, titan, crom, mangan...) và các quy hoạch cấp địa phương chưa lập báo cáo môi trường chiến lược (ĐMC), mặc dù phần lớn các quy hoạch này đều được lập sau khi có Luật BVMT năm 2005- đã quy định rõ về việc lập ĐMC.

Mặt khác việc lập báo cáo ĐTM ở một số dự án khoáng sản chưa đảm bảo chất lượng để tổ chức thực hiện việc BVMT mà chỉ mang tính hình thức, hợp lý hoá hồ sơ là chính. Một thực tế phổ biến ở các dự án khai thác mỏ là chậm hoặc không thực hiện việc lập báo cáo ĐTM bổ sung khi mở rộng quy mô khai thác.

Ví dụ như tại tỉnh Quảng Ninh, qua điều tra theo báo cáo của Sở TN&MT, kết quả kiểm tra 68 mỏ khai thác than đang hoạt động năm 2007 chỉ có 38 mỏ có báo cáo ĐTM (chiếm 55%). Hầu hết các đơn vị chưa có báo cáo BVMT định kỳ theo quy định khi phê duyệt báo cáo ĐTM, nhiều dự án khai thác mở rộng quy mô khai thác như Cao Sơn, Cọc Sáu, Đèo Nai, Hà Tu, Núi Béo chưa lập báo cáo ĐTM bổ sung...

Bên cạnh đó, việc ký quỹ phục hồi môi trường tại nhiều nơi chưa triển khai thực hiện được, một mặt do chưa đủ hồ sơ để đăng ký quỹ (như nhiều doanh nghiệp khai thác nhưng chưa có giấy phép khai thác), hoặc không biết ký quỹ ở đâu và bao nhiêu (do nhiều địa phương chưa có quỹ BVMT).

Ở một số điểm điều tra, cơ quan quản lý cho rằng địa phương gặp rất nhiều khó khăn để quản lý giám sát việc sử dụng quỹ để phục hồi môi trường sau khai thác của các doanh nghiệp, nhất là trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện phục hồi môi trường, địa phương không quản lý trực tiếp nguồn vốn này nên rất khó thuê tư vấn thực hiện theo quy định.

Sau khi ban hành quyết định 71/2008/QĐ-TTg quy định về lập dự án cải tạo phục hồi môi trường (đối với dự án đang triển khai phải được lập và phê duyệt trước 31/12/2008) làm cơ sở cho việc ký quỹ nhưng nhiều địa phương vẫn chưa triển khai được.

Qua điều tra ở Quảng Ninh, các dự án cải tạo phục hồi môi trường đối với khai thác than của các doanh nghiệp thuộc TKV đến tháng 1/2010 vẫn chưa được được phê duyệt (đã lập và gửi về Sở TN&MT) nên chưa triển khai được việc ký quỹ. Lý do chính là phía Sở TN&MT chưa có căn cứ để phê duyệt vì Bộ TN&MT chưa có hướng dẫn cụ thể. Mặt khác, phía Sở yêu cầu phải ký quỹ tại Quỹ môi trường tỉnh để thuận lợi cho công tác quản lý, giám sát nhưng quỹ này hiện vẫn chưa được thành lập.

Việc thu phí và sử dụng phí BVMT cũng còn nhiều vấn đề tồn tại. Tại các địa phương điều tra cho biết, trên thực tế các doanh nghiệp khai thác lớn hơn rất nhiều theo số khai báo hoặc theo sản lượng trong kế hoạch khai thác của giấy phép. Mặt khác nếu thu đủ cũng chưa đủ kinh phí để khắc phục hậu quả môi trường do khai thác khoáng sản gây ra do định mức thu phí BVMT hiện nay quy định còn thấp.

Việc sử dụng phí BMVT theo quy định là để (i) Phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản; (ii) Khắc phục suy thoái, ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra; (iii) Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tái tạo cảnh quan môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản.

Tuy nhiên ở hầu hết các địa phương điều tra, việc sử dụng phí này chủ yếu mới chú trọng thực hiện ở 2 nội dung (ii) và (iii) và hầu như bỏ qua nội dung (i).

Bên cạnh đó việc sử dụng  phí này cũng không công bằng, nhiều khu vực vùng mỏ bị ảnh hưởng lớn chưa được ưu tiên đầu tư khắc phục.

Ví dụ tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định các doanh nghiệp khai thác titan trên địa bàn huyên mỗi năm cũng chỉ nộp phí BVMT khoảng 3,5 tỷ đồng, nhưng nếu căn cứ theo kế hoạch khai thác các doanh nghiệp phải đóng đến 16 tỷ đồng, đó là chưa kể đến các doanh nghiệp thường khai thác nhiều hơn kế hoạch. UBND tỉnh Bình Định và huyên Phù Mỹ cũng chỉ sử dụng phí BVMT này cho việc cải tạo 6 km tuyến đường giao thông từ quốc lộ 1A vào vùng khai thác bị hư hỏng do xe vận tải quặng titan là chính. Trong khi đó ngay tại vùng khai thác chính như xã Mỹ Thành đường sá hư hỏng chính quyền xã phải huy động đóng góp của dân để đầu tư cải tạo lại...

Tóm lại, việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong khai thác, chế biến khoáng sản vẫn còn bị xem nhẹ. Cụ thể là: không thực hiện các biện pháp BVMT; thiếu trách nhiệm về giảm thiểu bụi, tiếng ồn, xử lý nước thải... kể cả khi cộng đồng và địa phương phản ánh; khai thác khoáng sản chưa có quy hoạch bãi thải, quy hoạch hệ thống xử lý nước thải; chưa thực hiện được phục hồi môi trường cũng như chưa thực hiện đầy đủ việc quan trắc và báo cáo môi trường định kỳ...

Phải làm gì?

Để làm giảm các bất cập về môi trường trong hoạt động khoáng sản nêu trên, cần có những điều khoản cụ thể ngay trong Luật Khoáng sản, cần quy định rõ các vấn đề liên quan đến BVMT như trách nhiệm các bên, ĐMC, ĐTM, quan trắc và giám sát môi trường, phí và sử dụng phí BVMT trong hoạt động khoáng sản.

Các điều khoản này sẽ giúp tránh khỏi việc làm chậm tính hiệu lực của Luật và đảm bảo việc thu phí và sử dụng phí gắn liền với hiệu quả BVMT; đồng thời tránh được việc Chính phủ phải ra văn bản dưới Luật như Nghị định 63/2008/NĐ-TTg về phí BVMT trong khai thác khoáng sản và Quyết định 71/2008/QĐ-TTg về ký quỹ phục hồi môi trường làm mất nhiều thời gian và tính thực thi của Luật.

Đảm bảo thu phí và sử dụng phí gắn liền với hiệu quả BVMT. Cách tính phí BMVT cần xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường như phương pháp khai thác, chế biến (lộ thiên, hầm lò, phương pháp tuyển, công nghệ chế biến), đặc điểm tự nhiên, vùng miền, mức độ gây ô nhiễm đến môi trường...

Thống nhất ký quỹ tại quỹ BVMT trường địa phương nơi có khoáng sản khai thác để thuận lợi cho địa phương thực hiện công tác quản lý, giám sát và sử dụng quỹ này khi cần thiết nếu doanh nghiệp không thực hiện hoàn thổ phục hồi môi trường;

Quy định vai trò trách nhiệm của các bên liên quan đối với công tác BVMT, đặc biệt là vai trò chủ trì của ngành TN&MT (chi cục môi trường) trong việc tham mưu cho UBND các cấp về sử dụng phí BVMT...

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu