Góc nhìn chiến tranh trong ca khúc SG trước 1975

Bây giờ nhìn lại, mới thấy quý những góc nhìn chân thực, mang ý nghĩa gợi mở cho cách nhìn hôm nay thêm một lần nhận rõ về cuộc chiến đã đi qua. sự kiện nóng

"Xin cho quê hương thôi hết đau thương"

Sau hiệp định Gieneve 20/7/1954, Việt Nam tạm thời chịu chia cắt thành hai miền, với hai thể chế chính quyền khác nhau. Ở miền Bắc là Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Ở miền Nam là chính quyền Việt Nam Cộng Hoà.

Ở miền Nam, với tình hình cụ thể, có thể chia làm ba giai đoạn nhỏ. Giai đoạn thứ nhất từ 20/7/1954 đến 20/12/1960 (Ngày thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam). Giai đoạn thứ hai từ 20/12/1960 đến 1965 (Khi Mỹ đổ quân ồ ạt vào các vùng chiến thuật). Giai đoạn thứ ba từ 1965 đến 30/4/1975 (Ngày thống nhất đất nước).

Giai đoạn thứ nhất, các nhạc sĩ ở Sài Gòn được biết đến nhiều như Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Chung Quân... Có những nhạc sĩ tham gia quân đội như Lam Phương, Anh Việt, Văn Phụng, Nguyễn Văn Đông... và đương nhiên, họ cũng ước ao có những giai điệu động viên, ca ngợi người lính trong nhiệm vụ bảo vệ đất đai, bảo vệ cuộc sống thanh bình của thường dân. Trong ca khúc "Chiều mưa biên giới", Nguyễn Văn Đông đã ghi rất rõ: "Kính tặng các chiến sĩ một nắng hai sương lao mình nơi tiền tuyến. Kỷ niệm Đồng Tháp Mười (biên giới Việt - Cambodia, 1956)."

Người mẹ Việt Nam

Những giai điệu không khoẻ khoắn lắm nhưng cũng đầy cảm xúc với ca từ: "Người đi khu chiến thương người hậu phương - Thương màu áo gửi ra sa trường...". Ca khúc "Phiên gác đêm xuân" được Nguyễn Văn Đông viết đêm giao thừa ở biên giới 1956: "Phút giao thừa một phiên gác đêm xuân - lòng ta sao nhớ thương quê nhà- cánh hoa đào rơi trên báng súng...".

Trong lúc quân giải phóng miền Nam hàng ngày được động viên bằng những giai điệu sục sôi, khí thế như "Hành khúc giải phóng", "Bài hát giải phóng quân", "Giờ hành động"... thì mặc dù cũng có những giai điệu vui như "Tiễn bước sang ngang" của Hoàng Trọng, khiến thanh niên miền Bắc thời ấy không hiểu bằng cách nào đã truyền miệng nhau say sưa và gọi là ca khúc "Giã từ" của Liên Xô:

"Biết đến bao giờ- gặp lại người em thời ấu thơ- để báo tin rằng cuộc đời từ nay đã khác xưa- một phút gần nhau- rồi tình mãi mãi lìa xa- quà nghèo chỉ có lời ca- tặng nàng trước khi giã từ", nhưng đã luồn sâu đâu đó lời thở than: "Nay đời tan biến trong hư vô- chất đầy từng mồ oán thù- máu xương tơi bời nhiều mùa thu..." ("Hương xưa" của Cung Tiến) hay: "Đêm cuối cùng buồn quá em ơi ! Bao giờ tình ngàn phương hoà nơi sa trường..." ("Tình anh lính chiến" của Lam Phương).

Nhạc sĩ Từ Công Phụng

Lời than thở càng rõ rệt hơn trong "Bến Hàn Giang" của Dương Thiệu Tước: "Chính chiến khắp nơi tràn lan- non nước đó đây lầm than- biết bao gia đình nát tan- vì chiến tranh...".

Giai đoạn thứ ba, trong khi cả miền Bắc vừa chống chiến tranh phá hoại bằng không lực Mỹ, vừa dốc lòng dốc sức chi viện miền Nam giành độc lập và thống nhất tổ quốc trong một không khí âm nhạc hừng hực ý chí chiến đấu và phải nhận thấy rằng đó là thứ âm nhạc cực "rock", thì tâm tư người lính Việt Nam Cộng Hoà, người dân miền Nam nhìn vào cuộc chiến tranh tàn khốc này bị phân hoá đến cực độ.

Ngoài những bài ca sặc mùi lính chiến đầy hưởng thụ và âu lo chết chóc như kiểu " Anh đi mai về" của Hoàng Nguyên, "Anh không chết đâu anh" hay "Người ở lại Charlie" của Trần Thiện Thanh.... Là những tình ca nơi con người trốn chạy, ngụp lặn thoát khỏi hiện thực phi lý như trong những tình khúc của Vũ Thành An, Lê Uyên Phương, Từ Công Phụng, Y Vân, Ngô Thuỵ Miên... và thấp thoáng những khát vọng xen lẫn tuyệt vọng như trong ca khúc "Đêm" của Cung Tiến (Thơ Thanh Tâm Tuyền): "Rồi vẫn đi hoài- anh vẫn đi hoài trong thành phố cô đơn...".

Không chỉ trú ẩn trong tình khúc, Từ Công Phụng còn đầy hoài nghi trong "Lời của mẹ": "Mẹ già lần ra trước ngõ ngóng tin con- thoảng nghe ngoài kia tiếng bom đạn nổ trên đồng- chợt thấy niềm tin vội héo trên tuổi mẹ mong... Xin cho quê hương thôi hết đau thương".

"Những ca khúc da vàng"

Nhưng có lẽ góc nhìn đầy thuyết phục vào hiện thực nhưng lại đầy nhân bản chính là góc nhìn trong ca khúc Trịnh Công Sơn - Một "Bob Dylan Việt Nam" có sức mạnh phản chiến khiến chính quyền Sài Gòn phải dùng nhiều thủ đoạn khống chế. Chỉ với tình khúc "Nhìn những mùa thu đi" dịu dàng nhưng mới mẻ, mà giai điệu Trịnh Công Sơn đã tiếp sức cho học sinh, sinh viên Huế kiên cường đấu tranh chống đàn áp Phật Tử 1963.

Khi dạy học ở Bảo Lộc, việc Mỹ đổ quân vào miền Nam và đánh phá miền Bắc đã khiến Trịnh Công Sơn có một kỳ nghỉ hè như bị cuồng bức. Ông đã trốn vào rừng sâu để viết ra tập "Ca khúc da vàng" với khát vọng hoà bình cháy bỏng. Năm 1967, ông đã xuất bản "lậu" tập ca khúc này ở Sài Gòn và cùng Khánh Ly đi du ca kêu gọi hoà bình. Chính góc nhìn này đã hoà nhập Trịnh Công Sơn vào phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe" rừng rực.

Trịnh Công Sơn cứ tiếp tục góc nhìn ấy cùng một số bạn bè như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Trần Quang Long... để tạo ra một ấn tượng phản chiến sâu đậm. Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn trong tập "Chiến tranh Việt Nam và tôi" xuất bản năm 1972 đã từng viết về ấn tượng ấy: "Khuya thức mãi trầm tư cây đèn lạp- chảy trong lòng men nhạc Trịnh Công Sơn".

Có lẽ nhờ vậy mà sau 30/04/1975, giữa những ca khúc Sài Gòn một thời loang ra miền Bắc, Trịnh Công Sơn vẫn là nỗi ám ảnh đáng kể nhất. Cho đến tận bây giờ và có lẽ mãi mãi. Trong chiến dịch Tây Nguyên tháng 03/1975, tôi đã nhặt được cuốn "Ca khúc da vàng" mà Trịnh Công Sơn xuất bản "lậu" năm 1967.

Ở trang đầu, có ghi dòng chữ khắc của một người lính chế độ cũ. Dòng chữ đã mang đạm khát vọng hoà bình: "Mẹ Việt ơi ! Hãy ngưng cảnh máu đổ thịt rơi. Để chúng con cùng chung vui một nhà" (Dòng chữ kỷ niệm này được ghi ngày 23/02/1969, ở dưới có ký tên).

Cảnh tượng đó đã khép lại ở Việt Nam 35 năm qua. Bây giờ nhìn lại, mới thấy quý những góc nhìn chân thực mà rất nhiều người đã cố gắng trong hoàn cảnh riêng bị che chắn bởi rất nhiều vật cản, để đưa ra những giai điệu thấm vào lòng người, mang ý nghĩa gợi mở cho cách nhìn hôm nay thêm một lần nhận rõ về cuộc chiến tranh đã đi qua.

TIN LIÊN QUAN

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu