Chính sách tiền tệ đa mục tiêu

Những ý kiến của ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nêu bối cảnh việc thực hiện nhiệm vụ "đa mục tiêu" của chính sách tiền tệ thời gian tới. sự kiện nóng

Ngày 20/4, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo: chính sách tiền tệ cần linh hoạt nhằm đảm bảo tăng trưởng 6,5%, không để lạm phát cao, đẩy mạnh xuất khẩu và phải giảm nhập siêu...

TS Võ Trí Thành: Có thể nói vào cuối 2009 đến đầu 2010, kinh tế thế giới phục hồi và còn bất định với hàm nghĩa rủi ro. Đầu năm 2010, IMF nói rằng tăng trưởng thế giới khoảng 4,1%, hồi phục có vẻ chưa chắc chắn: Một loạt sự đổ vỡ ở Dubai vào cuối năm ngoái; 200 ngân hàng sụp đổ; hệ thống tài chính vẫn được nhận định còn tiềm ẩn rủi ro.

Một vấn đề đặt ra trên cả toàn thế giới là tỷ lệ thất nghiệp cao và tỷ lệ này ngày càng tăng lên và rất khó có thể giảm.

Về Việt Nam, các nhìn nhận về kinh tế vĩ mô từ ba bốn tháng trở lại đây có nhiều thay đổi. Nếu nhìn vào tăng trưởng thì đều dự báo là 6,5 và đa số thận trọng là 5,5 - 6%.

Để hài hòa giữa tăng trưởng và lạm phát, cần minh bạch trong nguồn vốn và chính sách; phối hợp chặt chẽ giữa lãi suất - tỷ giá và tín dụng; can thiệp vĩ mô khi cần thiết. Nếu giải quyết được những mối quan hệ trên thì sẽ có khả năng kiềm chế được lạm phát.

Áp lực lạm phát trước hết sẽ gây khó khăn trong điều hành chính sách tiền tệ. Đó là việc cân bằng lãi suất giữa đồng nội tệ và ngoại tệ, giữa lãi suất và tỷ giá, giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, trong đó đặc biệt lưu ý tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp.

Trong điều hành chính sách tiền tệ thì có một vấn đề khó khăn, đó là cân bằng lãi suất giữa nội tệ và ngoại tệ để làm sao người dân tin vào đồng nội tệ. Chúng ta phải rất thận trọng về câu chuyện sai lệch cơ cấu đồng tiền trong thời gian tới, nếu không giám sát tốt giữa đồng đô la và tiền mặt thì trong quí‎ 3, 4, thị trường ngoại hối sẽ rất căng thẳng.

Nguy cơ USD găn giữ trong dân.
Nhìn trên kênh tỷ giá, tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế khá cao với khoảng hơn 20 tỷ USD và 500 tấn vàng đang được găm giữ trong dân. Con số được ghi vào sai số trong cân đối cán cân thanh toán (BOP) năm 2009 là 9,7 tỷ USD.

Một trong những yếu tố tác động lớn tới tỷ giá là vấn đề trung chuyển dòng ngoại tệ. Tại Việt Nam (VN), quá trình này rất phức tạp, không chỉ trong quan hệ giữa trong nước và quốc tế mà còn ở ngay trong nội tại nền kinh tế.

Việt Nam là một nền kinh tế đô-la hóa rất cao nên người dân dễ dàng dịch chuyển từ tài sản đánh giá bằng đồng nội tệ sang tài sản đánh giá bằng ngoại tệ, bao gồm cả vàng. Quá trình này có diễn ra mạnh mẽ hay không phụ thuộc nhiều vào niềm tin của người dân đối với thị trường tài chính, vào đồng tiền. Như vậy, việc giữ được lạm phát ở mức thấp hay không sẽ tác động lớn đến tỷ giá.

Trong trường hợp lạm phát tăng cao, lượng đôla bị găm giữ trong nền kinh tế nhiều khả năng cũng sẽ gia tăng. Điều này sẽ hạn chế rất nhiều tính hiệu lực của chính sách tiền tệ khi Chính phủ không thể kiểm soát được cung tiền cho nền kinh tế. Hiện tượng đôla hóa nền kinh tế, khi đó, sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh.

Từ đầu năm đến nay, các luồng vốn vào VN tốt hơn, như vậy, thâm hụt vãng lai giảm so với dự báo, không đến nỗi trắc trở so với cách đây 3 - 4 tháng.

Thị trường nội địa là "bà đỡ" rất tốt trong những lúc kinh tế khó khăn. Đứng ở góc độ doanh nghiệp, thị trường trong nước còn rất nhiều tiềm năng.

Tuy nhiên, sản xuất hàng hóa lại nhập khẩu khá nhiều nguyên liệu. Nếu không giải quyết được nguồn nguyên liệu tại chỗ thì việc thực hiện chủ trương "ưu tiên dùng hàng Việt" sẽ thiếu thực tế vì các nhà sản xuất phải vay ngoại tệ để nhập đầu vào mà khi bán sản phẩm lại thu nội tệ. Trong tình hình tỷ giá không ổn định, hàng hóa sẽ rất khó cạnh tranh mà doanh nghiệp cũng khó chủ động hạch toán kinh doanh dài hạn.

Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng vấn đề lãi suất trần, huy động là phải theo thị trường. Nhưng để vận hành tốt cơ chế bỏ "trần" trong tín dụng, phải có 3 điều kiện: (1) Chống lại được rủi ro hành vi đạo đức của một số ngân hàng. (2) Chống lại được sự đổ vỡ của thành quả. (3) Tăng vốn cho ngân hàng và tập trung giám sát.

Nếu nhìn lại từ năm 2007 đến nay thì bản chất chính của chính sách điều hành kinh tế vẫn là lãi suất. Trong khi đó, áp lực về phía doanh nghiệp so với thời kỳ năm 2008 đã đỡ hơn rất nhiều nhờ những tháo gỡ về chính sách nguồn vốn cho doanh nghiệp và thậm chí cả cách cung cấp thông tin cũng như có nhiều trấn an với các doanh nghiệp. Đặc biệt là Đảng, Chính phủ đã có những chính sách linh hoạt trong cách điều hành.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu