Học gì từ sự trỗi dậy của Trung Quốc?
Edward Steinfeld, Giáo sư Đại học MIT, một chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc, trong cuốn sách sắp ra mắt "Playing our Game", đưa ra một luận điểm khá “ngược dòng”: Sự trỗi dậy của Trung Quốc chẳng hề đe doạ đến phương Tây.
Tuần Việt Nam hỏi ông thật kỹ về nhận định này.
Phần 1: Người tài sẽ về khi thấy có phần trong sự phát triển đất nước
Ngừng cách làm cũ, lôi kéo bằng được người tài
- Trong cuốn sách này, ông cho rằng Trung Quốc đang bị nhiều nước phương Tây hiểu nhầm. Ông có thể nói rõ những hiểu lầm này là gì không? Và đâu là khuôn khổ thích hợp để thế giới hiểu Trung Quốc hơn?
Nhiều người phương Tây, đặc biệt là Mỹ, cho rằng Trung Quốc vì lý do nào đó đang đóng băng hệ thống phản biện trong nước và theo đuổi mô hình độc lập của riêng mình trong phát triển kinh tế bằng cách kết hợp kinh tế thị trường với quyền lực chính trị truyền thống. Tôi cho đó là một hiểu lầm lớn.
Tôi nghĩ Trung Quốc đã từng cố gắng duy trì cấu trúc chính quyền truyền thống, trong khi từng bước cải cách theo hướng thị trường trong nhiều năm, nhưng họ đã không thành công. Kết quả là cuộc khủng hoảng chính trị vào năm 1989. Cả hệ thống đã rúng động và rơi vào khủng hoảng thực sự nghiêm trọng. Hai cuộc khủng hoảng to lớn khác, lần này đến từ bên ngoài, là sự kiện Liên Xô sụp đổ và khủng hoảng tài chính châu Á.
|
Luận điểm chính của Playing our Game: Sự tăng trưởng của Trung Quốc thay vì hạ thấp, thực tế lại củng cố uy thế thương mại của Mỹ, vì (như tựa sách đã nêu), Trung Quốc đang "chơi theo luật Mỹ". Khi tìm cách hiện thực hóa giấc mơ hiện đại hóa đất nước bằng cách hội nhập vào trật tự kinh tế phương Tây, Trung Quốc đang chơi theo luật của phương Tây, chỉ tăng cường thêm vị thế của các công ty và các thể chế phương Tây. Ảnh hưởng của thế giới bên ngoài vừa có lợi sâu rộng, vừa dẫn đến những xáo trộn to lớn cho sự phát triển của Trung Quốc. |
Ở thời điểm đó, lãnh đạo Trung Quốc đã đưa ra một quyết sách hết sức quan trọng, đó là đoạn tuyệt với cách làm cũ, nghĩa là thay vì cố gắng bảo vệ các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội thì giờ đây phải thực sự xem xét lại các nguyên lý này để cứu nền kinh tế, cứu đất nước và cứu cả hệ thống chính trị. Điều đó có nghĩa là phải đảo lộn cả đất nước để viết lại các quy tắc kinh tế cơ bản cho phù hợp với bên ngoài, và "bên ngoài" ở đây có nghĩa là WTO, là sự cạnh tranh của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
Chính những quy tắc bên ngoài này, và sự phụ thuộc vào các quy tắc đó, buộc Trung Quốc và hạt nhân của hệ thống chính trị là đảng Cộng sản phải mở cửa để thu hút nhân tài bên ngoài. Những nhân tài này, có thể là những người được đào tạo ở Mỹ, châu Âu, hay cũng có thể được đào tạo trong nước, nhưng đều nằm ngoài hệ thống. Đến khoảng những năm cuối thập kỷ 1990, đặc biệt là từ năm 2000, các cơ quan nhà nước, các công ty quốc doanh, các trường đại học đã mở rộng cửa chào đón họ.
Sự mở cửa này không diễn ra một cách tự phát, mà từ cấp lãnh đạo cao nhất, những người nhiều lần nhấn mạnh rằng Trung Quốc cần có những tài năng và họ đảm bảo các tài năng ấy sẽ có thu nhập ngang tầm thế giới. Tôi thấy điều này rất đáng kể.
Tôi vẫn không hiểu hết tại sao một số bạn bè của tôi, những người rất thông minh, vào cuối những năm 1990 lại không muốn liên quan gì đến đảng, không muốn liên quan gì đến Trung Quốc, mà chỉ muốn tìm mọi cách đến Mỹ.
Thế nhưng đến cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, năng lượng của họ lại được dành cho những băn khoăn kiểu như khi trở về Trung Quốc thì có nên làm trong ngành tài chính không, có nên trở về trường đại học không, nên đòi hỏi những gì... Giờ tôi nhìn lại họ, những con người mới 20 năm trước không thấy bất kỳ một tia hy vọng nào ở Trung Quốc, nay đã trở thành Đảng viên. Họ không còn là những người chống đối nữa, nhưng họ vẫn có những ý tưởng cởi mở và cảm thấy mình có thể làm việc trong hệ thống này, không phải để làm cách mạng mà là để thay đổi hệ thống.
Tôi nghĩ là có nhiều vấn đề ở Trung Quốc, về kinh tế, xã hội, những điều mà tôi mong Việt Nam sẽ tránh được trên con đường phát triển của riêng mình. Nhưng điều khiến tôi giữ vững hy vọng ở Trung Quốc là việc có ngày càng nhiều tài năng được trọng dụng và muốn làm việc trong hệ thống. Mặc dù điều này không đủ để đảm bảo thành công nhưng là một tín hiệu tốt.
- Tôi cũng cho rằng biện pháp quan trọng là thu hút được ngày càng nhiều người tài cho hệ thống, và có thể đấy là động lực giúp Trung Quốc làm nên sự khác biệt chăng?
![]() |
| GS. Edward Steinfeld. Ảnh: mit.edu |
Chắc chắn là Trung Quốc hiện nay khác hẳn với Trung Quốc ngày xưa. Ngày xưa, những người này luôn than phiền, về nạn tham nhũng, về sự bảo thủ. Những người đã quay trở về sẽ không nói đó là một thiên đường, thậm chí không phải là một hình mẫu thành công, mà chỉ là một sự tiến bộ trong cách làm việc. Mà sự tiến bộ thì không phải lúc nào cũng suôn sẻ.
Tôi biết có nhiều người Mỹ và Việt Nam nhìn nhận Trung Quốc như một kẻ tham lam muốn có tất cả, có thể là họ có lý do chính đáng. Nhưng những người đã quay về lại nhìn nhận hệ thống đó khác: hệ thống đó còn yếu kém, còn phải đối mặt với nhiều thách thức kinh tế xã hội, và hệ thống đó đang tìm cách giải quyết chúng bằng cách kết nối sâu sắc hơn với các quy tắc và nhân tố bên ngoài. Họ nhìn nhận Trung Quốc là niềm hy vọng lớn nhất hiện nay và đang ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng hơn.
Vào Đảng để là một phần trong cơ chế xã hội
- Ông nói là một số bạn ông từng tỏ ra không thích dính líu đến chính trị, không muốn liên quan gì đến Đảng Cộng sản Trung Quốc vậy mà không lâu sau ông lại thấy họ trở thành đảng viên. Ông có biết lý do họ thay đổi quan điểm và thái độ không?
Rất nhiều bạn bè của tôi trở thành đảng viên mà vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Họ không coi đó là một tổ chức, mà chỉ là một cơ chế thôi, mà xã hội nào cũng có cơ chế. Ở Mỹ cũng vậy thôi, những người học từ Harvard hay Stanford ra sau này bạn sẽ thấy họ ở những vị trí xã hội cao trong chính quyền, và bạn sẽ chép miệng "cơ chế nó thế, hệ thống nó thế".
Ở Trung Quốc, đảng Cộng sản chính là cơ chế, là hệ thống đó. Nếu bạn là một doanh nhân thành đạt, một quan chức hành chính cao cấp, bạn sẽ là đảng viên. Thế là người ta nghĩ rằng mình cần phải là một phần của cơ chế này, kể cả khi họ không yêu quý nó.
Một lý do nữa là việc gia nhập chẳng có gì khó khăn, chỉ cần viết một bài luận, sau đó chẳng ai đòi hỏi họ phải tin vào cái gì, hay phải đi họp với tư cách đảng viên. Khi tôi dạy học ở Trung Quốc, tôi hỏi các sinh viên của mình, những người đang học cử nhân ở một trường đại học hàng đầu, rằng ai trong số các em muốn vào đảng. Tất cả đều muốn vào.
Tôi ngạc nhiên quá, hỏi tại sao, và câu trả lời đơn giản nhất là vào đảng dễ kiếm việc. Tôi hỏi thế các em muốn tìm việc trong chính quyền sao, họ bảo không, họ muốn làm trong các công ty nước ngoài. Không lẽ khi phỏng vấn tuyển dụng, các công ty nước ngoài sẽ hỏi em có phải đảng viên không sao? Tất nhiên họ hỏi. Cũng chỉ vì đảng là cơ chế thôi.
Các sinh viên vào đảng khá dễ dàng, họ chỉ cần học giỏi, cư xử tốt, không gây rắc rối. Khi các công ty tuyển dụng, họ cũng xem xét sinh viên học trường nào, học ra sao. Nhưng nếu là đảng viên, có nghĩa họ là sinh viên tốt. Nhưng về mặt chính trị, nó không có nghĩa là bạn tin vào cái gì cả.
Không giống như ngày xưa, một sinh viên là đảng viên có nghĩa là rất nghiêm túc, rất quan tâm đến chính trị. Giờ việc là đảng viên chỉ có ý nghĩa xã hội chứ ít ý nghĩa chính trị. Giống như ở Mỹ là sinh viên MIT hay Harvard thì ở Trung Quốc là sinh viên đại học Thanh Hoa hay Bắc Kinh.
Sinh viên của tôi muốn vào đảng nhưng cũng khó chịu lắm. Viết luận là một quy trình không có ý nghĩa thiết thực vì chẳng ai tin vào một bài luận mà người viết chẳng hề tin vào những gì mình viết. Nhưng ai cũng phải trải qua. Người ngoài nhìn vào có thể thấy buồn cười, nhưng thực tế không hoàn toàn ngớ ngẩn.
Khi Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân đưa ra thuyết "Ba đại diện", học thuyết đó mới nhìn tưởng như không có nghĩa gì cả. Nhưng thực tế nó có ý nghĩa với người dân khi họ được nghe rằng đảng đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho nền văn hoá tiên tiến... Xét ở mức độ nào đó, nó có ý nghĩa khi thuyết này không nói rằng đảng đại diện cho giai cấp lao động, cho đấu tranh giai cấp hay vận động cách mạng... Nếu bạn là một người có học, là doanh nhân, trí thức..., bạn sẽ nhìn vào thuyết này và nghĩ: đó là mình, đó là đảng của mình, không còn là đấu tranh giai cấp nữa, không còn là những điều mình không làm được hoặc không nhớ nổi. Giờ nó mở cửa với mình rồi.
Tôi còn nhớ khi thuyết này ra đời tôi đã đùa cợt về nó với mấy người bạn đang làm điều hành cao cấp trong các công ty lớn ở Trung Quốc. Nhưng một người nói: Thuyết đó không phải trò đùa đâu, tôi rất coi trọng nó, không phải vì đó là một ý tưởng tuyệt vời, mà là vì nó cho phép chúng tôi làm những gì mà trong quá khứ chúng tôi không được làm. Vì thế chúng tôi rất quan tâm đến nó.
GS. Steinfeld trò chuyện tại VietNamNet. Ảnh: Lê Anh Dũng
- Nhiều nhà phân tích nói rằng bằng học thuyết ba đại diện, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tuyên bố rằng đảng Cộng sản Trung Quốc sẵn sàng thay đổi cả những nguyên tắc cơ bản để có thể thu hút được nhân tài vào hệ thống. Vậy về lâu dài, ý nghĩa của việc này như thế nào?
Mọi thứ đang thay đổi rồi. Đang ngày càng có nhiều người được thu nạp vào hệ thống từ khu vực tư nhân, từ các trường đại học và ngày càng có nhiều nhà kỹ trị trong hệ thống. Họ đang đứng đầu nhiều cơ quan quan trọng, họ đang góp phần thay đổi tính chất của nền chính trị. Tôi không nghĩ đây là một quá trình kì bí gì, chúng ta có thể thấy đã có ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, và Trung Quốc đang đi theo chính con đường đó.
Lôi kéo Hoa kiều bằng chủ nghĩa yêu nước
- Một điểm thú vị nữa trong cuốn sách của ông là những nỗ lực của Trung Quốc trong việc kêu gọi nhân tài người Hoa trở về phục vụ trong các lĩnh vực công hoặc tư. Vậy Trung Quốc đã làm việc này như thế nào?
Nói một cách đơn giản là bằng lương cao. Nhân tài người Hoa về nước có thể làm trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, làm cho các công ty nước ngoài, làm việc tại Thượng Hải, hay Bắc Kinh hay Hongkong, đều nhận được mức lương cao. Thậm chí nếu vào làm trong lĩnh vực công họ cũng nhận được mức lương cao hơn mức lương công chức truyền thống. Họ được trả lương tương xứng với bằng cấp và đẳng cấp của nơi họ đã tốt nghiệp thạc sĩ hoặc tiến sĩ, ở Harvard, Stanford hay MIT.
Khi Thủ tướng Chu Dung Cơ đến thăm MIT năm 1999 và có bài phát biểu, ông biết là trong cử toạ có rất nhiều nhân tài gốc Hoa nên đã nói: Chúng tôi cần các bạn, chúng tôi cần tài năng của các bạn và chúng tôi sẽ trả các bạn mức lương quốc tế nếu các bạn trở về.
Có thể ban đầu ông ấy không có ý đó nhưng họ đã làm như vậy, kể cả trong các công ty nhà nước truyền thống như công ty dầu khí mà tôi từng tư vấn. Họ cần các nhân tài, và sẵn sàng trả lương và thưởng rất hào phóng.
Nền kinh tế đang bùng nổ của Trung Quốc cần rất nhiều nhân tài và sẵn sàng trả lương cao để họ trở về từ phương Tây. Ảnh: Bắc Kinh về đêm (TC)
Ở một khía cạnh khác, chuyện phức tạp hơn một chút. Khi chính phủ Trung Quốc từ bỏ chính sách tập trung cuối những năm 1990, thôi không tập trung vào xã hội chủ nghĩa hay đổi mới một cách chừng mực nữa mà thay vào đó là mục tiêu hiện đại hoá và đưa đất nước "vào quỹ đạo quốc tế", họ đã thực sự làm được một việc, đó là khơi gợi lòng yêu nước và khát vọng của mỗi người Trung Quốc.
Giờ đây, trung thành không phải là với đảng hay với một lực lượng chính trị nào, mà là trung thành với đất nước.
Rất nhiều công dân Trung Quốc, bất chấp quan điểm chính trị, đã cảm thấy mình có phần trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Lễ khai mạc Thế vận hội năm 2008 không phải là không có ý nghĩa gì hay chỉ là tuyên truyền. Rất nhiều người Trung Quốc, cho dù nói rằng không ưa chính trị, vẫn cảm thấy vô cùng xúc động khi thấy đất nước mình thật hiện đại.
Và dù nhiều người ở Mỹ hay ở Việt Nam nhìn Trung Quốc như một người khổng lồ không thể bị ngăn chặn, bản thân người Trung Quốc vẫn nghĩ nước mình còn yếu và bị xúc phạm trong nhiều thế kỷ qua. Khi đất nước bị coi thường, mỗi người cũng cảm thấy bị coi thường. Thế nên khi nhìn thấy đất nước đã hiện đại hơn, đã có vị thế quốc tế hơn, chưa phải là một mình một sân, nhưng cũng có tiếng nói bên cạnh Mỹ hay Nhật, họ cảm thấy tự hào về đất nước hơn rất nhiều.
Rất nhiều người đã trở về và góp sức, và dù họ vẫn không ngừng than vãn về nạn tham nhũng, hành chính quan liêu, họ vẫn cảm thấy mình đang làm một việc rất xứng đáng. Vào khoảng năm 1999, tôi ngờ rằng chẳng có mấy người nghĩ như vậy.
- Có phải ý ông là chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc hiện đang rất mạnh?
Tôi sẽ thận trọng khi nói về vấn đề này. Chủ nghĩa dân tộc trong tiếng Anh với tôi, tôi phải thừa nhận, là mang nghĩa tiêu cực. Rất ít người nói là họ theo chủ nghĩa dân tộc, tôi cũng vậy. Nhưng nhiều người sẽ nói là họ yêu nước, phục vụ đất nước vì có niềm tin vào đất nước.
Ở Trung Quốc có chủ nghĩa dân tộc, nhưng họ cũng e ngại chủ nghĩa dân tộc này. Ví dụ, cứ nhắc đến Nhật Bản là không ít người Trung Quốc sẽ rất tức giận, với Mỹ cũng vậy. Đó là chủ nghĩa dân tộc.
Còn chủ nghĩa yêu nước là lòng tự hào về đất nước, là tinh thần sẵn sàng đóng góp cho đất nước. Tôi cho đó là điều đang có ở Trung Quốc mạnh mẽ hơn hồi những năm 1990. Chủ nghĩa dân tộc cũng có, thực sự xấu xí, nhưng chỉ là nhỏ so với chủ nghĩa yêu nước.
Dù Trung Quốc đã đẩy mạnh hiện đại hoá, đã ít nhiều tuân theo các luật lệ quốc tế, đã chấp nhận sự có mặt của người ngoại quốc trong rất nhiều lĩnh vực cơ bản của nền kinh tế, tôi vẫn cảm thấy ngạc nhiên khi người Trung Quốc thoải mái đến vậy với người nước ngoài, không thấy mấy người Trung Quốc hỏi "người nước ngoài làm gì ở đây vậy", chủ nghĩa dân tộc không còn thể hiện nhiều.
Không những thế, chủ nghĩa yêu nước còn thể hiện ở chỗ người Trung Quốc coi việc có nhiều người nước ngoài ở nước mình là dấu hiệu cho thấy vị thế đất nước đang tăng lên, cho thấy người Trung Quốc có thể bình đẳng với thế giới.

Đổ tiền cho đại học
- Các trường đại học lớn, như ĐH Thanh Hoa và Bắc Kinh, đóng vai trò rất lớn đối với sự phát triển của Trung Quốc. Theo quan sát của ông, vai trò của các trường đại học hàng đầu này được thể hiện như thế nào trong sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc?
Câu hỏi này vừa thú vị vừa phức tạp. Trong một thập kỷ qua, một lượng vốn đầu tư khổng lồ đã được bơm vào một số trường đại học hàng đầu trong hệ thống đào tạo của Trung Quốc.
Có thể nói là giáo dục ở các cấp dưới ở nhiều nơi gần như đã bị quên lãng. Chính phủ chính thức quy định chế độ phổ cập 9 năm cho tất cả trẻ em, nhưng trên thực tế, mọi việc không được như vậy. Ở các cấp học dưới, học sinh và gia đình phải trả rất nhiều các loại phí, khiến nhiều nhà nghèo không thể cho con theo học. Theo tôi các nước đang phát triển khác phải tránh được tình trạng này.
Nhưng đầu tư vào các trường đại học đang tăng lên từng ngày. Cách đây khoảng hơn 10 năm, chính phủ Trung Quốc bắt đầu thúc đẩy những thay đổi trong hệ thống giáo dục đại học cao đẳng. Trước kia, các giảng viên thường không có bằng cấp đáng kể. Khi chính phủ yêu cầu giảng viên đại học phải có bằng cấp và công trình khoa học, ban đầu các trường cảm thấy vớ vẩn, nhưng vẫn tuân thủ. Thế là dần dần các giảng viên trẻ với lợi thế trong việc tiếp cận các nền giáo dục tiên tiến có thể giành được nhiều bằng cấp và thăng tiến, gạt ra lề các đồng nghiệp nhiều thâm niên. Đến giờ, ở hầu hết các trường đại học hàng đầu, các giảng viên đều có rất nhiều bằng cấp.
Khoảng 15 năm trước, nếu có ai học ở nước ngoài, có bằng cấp của phương Tây mà lại quay về Trung Quốc, các trường đại học Trung Quốc trước hết sẽ cho người này là ngốc nghếch, sau đó là không nhận họ, vì nhận người ngoài sẽ đảo lộn hết chế độ lương bổng một cách không mong muốn.
Nhưng giờ đây, Bộ Giáo dục Trung Quốc quy định các trường đại học quan trọng phải có một số lượng tối thiểu các tiến sĩ nước ngoài, thế là các trường đại học gặp phải áp lực rất lớn phải tìm được và lôi kéo được các công dân có bằng cấp của Mỹ hoặc châu Âu. Giờ đây các khoa đang tràn ngập những người như thế, có xấu có tốt nhưng đều là Tây học, vì bây giờ đó là một tiêu chuẩn. Và họ cũng đang tự đào tạo ra các tài năng.
Thật khó có thể nói các kỹ sư được đào tạo ở Đức hay Mỹ hay trong nước giỏi kém ra sao, nhưng các công ty nước ngoài ở Trung Quốc đang tuyển dụng họ dựa trên trình độ, và tiếp tục đào tạo để họ có thể nhanh chóng và dễ dàng hoà nhập với môi trường nghiên cứu và phát triển quốc tế. Họ biết rằng chỉ có thể tìm được những nhân tài thực sự ở một vài trường đại học lớn: Bắc Kinh, Thanh Hoa, Chiết Giang, Giao thông Thượng Hải, Phúc Đán...
Các trường đại học lớn của Trung Quốc đang là các trung tâm sản xuất nhân tài.
Ảnh: ĐH Thanh Hoa (chinaview)
- Điều quan trọng đối với các giảng viên hàng đầu ở các trường đại học hàng đầu là phải có tự do học thuật và tư duy và không chấp nhận sự áp đặt về tư duy hay ý tưởng. Ông có nghĩ là chính phủ Trung Quốc đã tạo ra được môi trường tự do này không?
Đây là một câu hỏi khó. Nói một cách đơn giản thì là không. Chính phủ Trung Quốc chưa tạo ra được một môi trường cho phép mọi người có thể nói bất cứ điều gì. Ở một vài lĩnh vực nhất định, như kinh tế chẳng hạn, có thể có tự do phát ngôn. Nhưng động đến chính trị, mỗi người đều tự kiểm duyệt. Theo họ, vẫn có tranh luận học thuật, nhưng luôn có sự tự kiểm duyệt.
Tuy nhiên vẫn có một sự linh hoạt khiến tôi ngạc nhiên. Một mặt, có những người gia nhập hệ thống với rất nhiều ý tưởng rộng mở vì họ sống ở nước ngoài hoặc đơn giản là sành điệu nên họ có thể biết mọi thứ qua internet. Họ được thông tin rằng chính phủ Trung Quốc muốn vươn lên tầm thế giới, có nghĩa là trở thành một nước công nghiệp phát triển, họ thấy rằng Trung Quốc dù độc đảng nhưng không độc tài.
Chính phủ Trung Quốc hiện nay cũng đang truyền thông một cách hiệu quả về một tầng lớp trung lưu hiện đại - những người thu nhập cao, mức sống cao, có nhu cầu vui chơi giải trí... Nó tạo ra một cảm giác rằng có dân chủ, tạo cho công dân của họ hy vọng, mặc dù các khái niệm này chưa bao giờ được làm rõ, thúc đẩy công dân thay đổi hành vi, tuân thủ pháp luật như mong muốn biến Trung Quốc thành một xã hội pháp quyền.
Và thực tế là Trung Quốc cần phải trở thành một xã hội pháp quyền, cho dù là luật đối với những người nông dân bị mất đất vào tay các nhà đầu cơ bất động sản hay luật đối với các công dân thành thị muốn bảo vệ quyền của mình theo luật lao động... Đó cũng là một động lực xã hội thú vị. Và đi đầu làm gương phải là các doanh nghiệp, doanh nhân, quan chức trong hệ thống chính trị, và giới truyền thông.
(còn nữa)

