Người giữ tinh hoa quạt Chàng Sơn

Nổi tiếng không chỉ vì làm nên chiếc quạt lớn nhất Việt Nam và hơn 100 chiếc quạt cho dịp đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, nghệ nhân Dương Văn Mơ (Chàng Sơn - Thạch Thất - Hà Nội) còn được biết đến bởi nỗ lực đưa thương hiệu quạt nghệ thuật làng Chàng ra thế giới. sự kiện nóng

LTS: Trong thời điểm cùng đếm ngược thời gian tiến đến Đại lễ Kỷ niệm 1000 Thăng Long. Tuần Việt Nam xin khởi đăng mạch bài Hà Nội - Những di sản sống vào thứ Ba hàng tuần. Họ - những nhân vật của chúng tôi - là những nhân chứng lịch sử, trong chừng mực có tác động ít nhiều đến những thay đổi quan trọng với văn hoá và sự phát triển của Thăng Long; hoặc là những người Hà Thành tiêu biểu sinh ra và lớn lên ở Hà Nội và chứa đựng trong con người họ những vẻ đẹp của văn hoá Thăng Long. Đời sống của họ có sức lan toả những vẻ đẹp này vào đời sống xã hội; hoặc là những người Hà Nội gốc và Hà Nội nhập cư nhưng có ý thức và hành động để gìn gữi vẻ đẹp cửa văn hoá Thăng Long ở nhiều khía cạnh. Nói một cách khác, chúng tôi xin giới thiệu họ như những di sản sống của Thăng Long 1000 năm văn hiến.

Cổ tích quạt làng Chàng

Từ trung tâm Hà Nội, chỉ mất khoảng một giờ đồng hồ , chúng tôi về làng Chàng (xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Nội) để tìm người làm chiếc quạt lớn nhất Việt Nam. Từ trung tâm công nghiệp Chàng Sơn chạy thẳng qua cánh đồng lúa cỡ 2km, vòng vèo qua những con ngõ nhỏ đậm phong cách làng quê, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được nhà ông Mơ.

Nghệ nhân Nguyễn Huy Giáp xã Chàng Sơn cho hay, hiện nay cả làng chẳng còn mấy ai bám trụ được với nghề làm quạt. Làm quạt mãi mà không khá lên được nên một thời gian sau họ chuyển sang nghề khác. Trai, gái đến thì dựng vợ, gả chồng cũng không còn lưu luyến với nghề nữa. Người làm quạt cả đời như ông Mơ, bà Mơ ít lắm, hiếm lắm.

Theo lời của ông Dương Văn Mơ, người đã có công khôi phục làng quạt truyền thống thì nghề làm quạt the ở xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) đã có từ hàng trăm năm.

Từ thế kỷ 19, quạt Chàng Sơn đã nổi tiếng, đã từng được người Pháp đem sang Paris triển lãm. Người làm quạt giỏi được phong chức Bá Hộ (phẩm hàm cấp cho hào lí hoặc người giàu có thời phong kiến).

Ông Mơ mô tả: Quạt Chàng Sơn rất cầu kỳ và bền đẹp. Tre làm xương quạt để tránh mối mọt phải ngâm nước không dưới 3 tháng, giấy phất quạt phải là loại giấy dó, chuẩn nhất vẫn là giấy dó làng Bưởi. The được làm từ lụa, thứ lụa chính cống của Hà Tây. Quạt có nhiều loại: quạt giấy, quạt ghép, quạt the... Nhưng nổi tiếng nhất vẫn là quạt the.

Người xưa dùng quạt để giải tâm phiền. Theo người nghệ nhân này, chiếc quạt làng Chàng đã được gắn với rất nhiều câu chuyện cổ tích: ngày xưa có "hội đồng tiên quạt", vì lương duyên nên kết quạt để giải tâm phiền: Câu thơ xưa được ông ngâm lên để giải thích cho xuất xứ nghề làm quạt the ở Chàng Sơn.

"Tiên đồng hội quạt, hội đồng tiên,

Lương duyên kết quạt, giải tâm phiền.

Phiền tâm quạt, tay đưa gió

Gió đưa tay quạt, hội đồng tiên".

Ngoài giá trị mỹ thuật, mỗi chiếc quạt còn hàm chứa trong mình bề dầy của triết lý, lịch sử. Quạt có thể làm duyên trên tay các thiếu nữ, các đức ông hoặc trang trí trên tường như một bức tranh gợi mở. Cho dù treo tường hay cầm trên tay, thì ta đều cảm nhận rõ vẻ mềm mại, đung đưa theo gió của những hoạ tiết, hình ảnh ở phần giữa chiếc quạt, còn ở hai cái nan bên ngoài cùng chiếc quạt thì cho ta cảm giác chắc chắn, bao quanh như phần khung tranh. "Bức tranh" đó càng trở nên quyến rũ hơn bởi chất liệu the tơ óng ánh mầu hoàng tộc, các vân sáng lung linh tự nhiên hoà quyện với các hoạ tiết được trạm trổ phía trên. Chất liệu làm quạt được sử dụng rất phong phú như giấy mầu, vải lụa, the, gấm, tơ tằm... Các hình vẽ trên quạt là các kiểu trang trí, từ danh lam thắng cảnh của đất nước, đến các tích truyện cổ, truyện lịch sử...

Mặc dù đời sống vật chất đã đổi thay, người dân giờ đã quen với những chiếc quạt điện, điều hòa nhưng không vì thế mà quạt thủ công bị đẩy xa đời sống văn hóa của người Việt. Quạt vẫn là đạo cũ cho các màn múa cổ truyền, hát, phục vụ cho lễ hội đình làng, trang trí, để tặng nhau và theo chân những người đi xa đến mọi miền tổ quốc Việt Nam và vươn ra thế giới.

Để làm chiếc quạt lập kỷ lục lớn nhất Việt Nam, dài 9m, cao 4,5m, vẽ tranh chợ quê Hà Nội theo mẫu tranh phố Hàng Trống trưng bày tại Lễ hội phố hoa Tết và Festival làng nghề truyền thống tổ chức tại Huế tháng 6 năm 2009 ông và một nghệ nhân làng Phí Quang Bộ phải huy động 4 nhân công làm dòng dã hơn 30 ngày. Ảnh Tự Lập

Cuộc đời gắn trên từng nan quạt

Ít ai biết được rằng chiếc quạt đơn sơ nhưng đậm chất văn hóa làng quê Việt Nam ấy đã đến với nước ngoài như thế nào. Nhấc một ngụm nước chè, ông kể cho chúng tôi nghe câu chuyện cuộc đời gắn với chiếc quạt đầy chông gai nhưng cũng đầy kỷ niệm.

Từ khi ông Mơ còn rất nhỏ, vẫn thường lon ton theo chân cha, chú cùng các bậc tiền bối mải mê khắp các nhà trong thôn xóm học làm quạt. Khi ấy còn nhỏ chưa hiểu được nét đẹp truyền thống của làng quê in hằn trên từng múi quạt, mà chỉ biết rằng cái của quý của làng ấy giải được các cơn nóng oi bức của ngày hè. Thời gian trôi qua cùng với những buổi chăn trâu ngoài đồng hay cắp sách tới trường ông vẫn thường mang nan và giấy đi để làm quạt. Khi lớn lên mới thấy được những nét tinh hoa của cha ông càng ngày càng mất dần do chiến tranh, do cuộc mưu sinh và những biến động của cuộc đời khiến người làng bỏ dần nghề làm quạt.

Dạo đó, dân trong làng đua nhau chuyển nghề, quạt giấy gia truyền của gia đình ông cũng có nguy cơ chìm vào quên lãng. Gia cảnh túng bấn, 5 đứa con đều đang tuổi ăn học, ông như người cha lâm vào thế bần hàn, nếu không thay đổi, không đột phá... tất sẽ mất nghề.

Đắn đo, suy nghĩ cả tuần, trí não của người cha yêu thương các con đã thắng thế. Ông quyết tâm khôi phục dòng quạt nghệ thuật, trang trí mà cha ông đã truyền lại. Đôi chân ông đã biết bao lần lên tới tận đỉnh núi Ba Vì, chùa Thầy, chùa Tây Phương, Đá Chông để thu vào ống kính những tấm ảnh đẹp nhất vùng xứ Đoài mang về làm chất liệu sáng tác quạt nghệ thuật.

Năm 1987, ông tỷ mỷ sáng tạo chiếc quạt rộng 1,8m được làm từ những chất liệu dân gian: Mây, tre, giấy bồi, bột màu. Khi mới làm nhiều người cho ông là rảnh rỗi nên mua việc nhưng đã hoàn thành, người dân lại túm vào chiêm ngưỡng. Đúng là đẹp không chê vào đâu được. Khi quạt xoè ra, cả khung cảnh mây, nước, cuộc sống của người dân dưới chân núi Thầy hiển hiển trước mắt, sống động, bình dị lạ thường. Chiếc quạt đó ông đã bán lại cho một khách hàng với giá 1 triệu.

Không sợ vất vả khổ cực ông đi khắp các chốn Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội ...để bán quạt. Ông còn tìm đến các danh lam thắng cảnh nơi có nhiều khách du lịch mong sao chiếc quạt không phụ lòng người. Lúc đầu ít người xem nhưng cuối cùng cũng có những người hiểu được cái hồn dân tộc in hình trên những thanh quạt, múi quạt ấy.

Thế rồi tin lành đồn xa, những ông Tây bà Tây cứ thi nhau tìm về nhà ông. Ông không phải đi bán quạt xa nữa mà khách tìm về tận nhà để đặt hàng nghệ thuật, trưng bày, trang trí, làm lưu niệm. Niềm vui đã đến với ông cùng những đứa con trong gia đình. Vậy là chúng đã có tiền để đi học và mua sắm quần áo mới. Con cái đã lớn, kinh tế gia đình khá giả lên dần. Cuộc sống ngày càng bộn bề hơn với những đơn đặt hàng, hàng vạn chiếc sang Pháp, Nhật, Mỹ, Hàn... Cứ có thời gian rảnh là ông lại đi khắp các chốn để lấy cảnh sông núi, làng quê giúp cho ông có thêm cảm hứng sáng tạo ra phong cảnh hữu tình, cảnh dân gian.

Để có được một chiếc quạt ưng ý, người nghệ nhân phải bỏ công chọn từng ống tre, đạt 3 chuẩn: dẻo, già, không mối mọt để làm nan quạt. Tiếp đến là công đoạn trọn mây để đan viền quạt. Sợi mây phải mượt, óng, dài để khi đan không phải nối nhiều đoạn. Khi vào giấy cho nan quạt phải khéo léo, tỷ mỷ, sao cho giấy không bị nhàu, nếp gấp phẳng, đều, tiện cho công việc vẽ tranh. Khi vẽ, điều khó nhất của người hoạ sỹ là căn chuẩn nếp gấp giữa các nan quạt. Phải tính toán kỹ lưỡng sao cho khi hoàn thành, gấp quạt lại không ảnh hưởng đến tranh, các nếp gấp nằm vào đúng khoảng không, không được cắt người hay cắt vật.

Nếu trường hợp bắt buộc phải cắt, thì cái tài của người vẽ chính là tạo mối liên kết sao cho người xem không biết vật đó bị cắt nếu không tận tay sờ vào hiện vật. Khi các công đoạn làm quạt hoàn thiện, người hoạ sỹ sẽ phủ lên đó một lớp sơn bóng để giữ cho quạt sáng đẹp, bền lâu. Chính vì những kỹ thuật tinh tế đó và vì cả chất liệu dân gian độc đáo của sản phẩm nên quạt nghệ thuật ông Mơ rất được yêu chuộng.

Chuyến xuất ngoại đầu tiên của quạt nghệ thuật lại do một vị khách người Mỹ đến đặt. Nguồn thu từ sản phẩm quạt nghệ thuật mỗi năm với gia đình ông cũng vì thế mà tăng lên dần, thường từ 60 đến 80 triệu đồng, tuỳ theo đơn đặt hàng của khách. Năm 2009, ông nhận được đơn đặt hàng 6 vạn chiếc từ một người Pháp. Thành công cứ đến với ông, rồi ông lại chợt thở dài. Chỉ tiếc chưa có đứa nào thật sự thích hợp, bởi làm quạt cũng cần có cái tâm.

Điều băn khoăn và mong mỏi nhất của ông hiện nay là làm sao truyền được nghề cho con, cháu trong làng. Cả làng Chàng bao năm qua hiện vẫn chỉ có duy nhất một mình ông duy trì nghề làm quạt nghệ thuật. Các con ông là niềm hy vọng gần nhất, chúng cũng mỗi người mỗi việc, chẳng có ai chịu học. Ngay cậu con trai Dương Văn Đoàn nổi tiếng trên thị trường Hà Nội, Sài Gòn với các loại quạt giấy nay vẫn mải làm ăn, chưa ngó ngàng tới việc giữ gìn bí quyết nhà nghề. Thời gian qua mau, nghệ nhân Mơ tuổi mỗi ngày một cao, sức mỗi ngày một yếu, mong mỏi kiếm tìm học trò để truyền nghề của ông xem chừng gặp khó khăn.

Một trong những được làm cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long. Ảnh Tự Lập

100 chiếc quạt cho đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội

Để làm chiếc quạt lập kỷ lục lớn nhất Việt Nam, dài 9m, cao 4,5m, vẽ tranh chợ quê Hà Nội theo mẫu tranh phố Hàng Trống trưng bày tại Lễ hội phố hoa Tết và Festival làng nghề truyền thống tổ chức tại Huế tháng 6 năm 2009 ông và một nghệ nhân làng Phí Quang Bộ phải huy động 4 nhân công làm dòng dã hơn 30 ngày.

Bước đầu ông lựa chọn một cây gỗ dài 4,5m, đinh óc bằng sắt phi 12 dài 60cm, giấy nện 30 tấm rộng 1,6m, dài 1,8m. Chiếc quạt nhanh chóng được dựng lên nhưng phải cần đến sự trợ giúp của 20 cây tre dài, thẳng gần 10m để làm giáo dựng. Nguyên liệu dùng làm quạt được lựa chọn kỹ lưỡng: nan làm bằng gỗ thông; múi quạt làm bằng gỗ tếch loại I được dán bằng mây phên đan ô; bản lề làm bằng vải lụa, được sơn phủ và vẽ tranh Hàng Trống nổi tiếng có tên Chợ quê. Tiếp đó hai anh em đã phải vẽ liên tiếp trong 8 ngày, không dừng được vì trời mưa sẽ làm nhòe mực và hỏng quạt. Lúc nào cũng lo ngay ngáy, trời mà đổ mưa là công cốc công cò hết. Mỗi khi sợ trời mưa ông lại huy động anh em hạ xuống cho vào nhà, cố lắm cũng phải mất 5 người mới di chuyển được.

Cuối cùng mọi việc cũng xong xuôi đâu vào đấy. Bước tiếp theo là phải dùng xe 3,5 tấn để chở quạt đi triển lãm. Khi chuyển quạt vào thủ đô phải tránh lúc tắc đường.Mọi sự nỗ lực cuối cùng cũng mang lại thành công. Chiếc quạt này đã đem thương hiệu quạt Chàng Sơn đến với người dân mọi miền Tổ quốc và cả các du khách nước ngoài.

Ông Mơ vẫn đang gấp rút hoàn thành 100 chiếc quạt có đường kính 1,2m có hình ảnh hai con rồng trầu nguyệt, cho đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đây là một dịp để ông hoàn thành ước nguyện cha ông để lại: mang văn hóa quê hương hòa nhập với văn hóa dân tộc.

Ông Mơ vẫn đang gấp rút hoàn thành 100 chiếc quạt có đường kính 1,2m có hình ảnh hai con rồng trầu nguyệt, cho đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Ảnh Tự Lập

Ông Mơ không chỉ lưu giữ nghề quạt truyền thống cho quê hương mà ông còn tạo ra các loại quạt mới, được cải tiến bằng sự phối mầu, bằng những chất liệu mới. Cùng với những hình vẽ ngày càng bay bướm hơn, tài hoa hơn, giá trị của chiếc quạt đã nâng lên một tầm cao mới, trở thành những bức tranh sống động, có hồn, có cá tính và biểu thị cho "gu" thẩm mỹ của người sử dụng và của người sản xuất ra chiếc quạt, thậm chí, tiêu biểu cho bản sắc văn hoá của một dân tộc. Có thể thấy những người thợ làm quạt như ông Mơ còn như một nhà điêu khắc, một nhà hội hoạ, và đặc biệt am hiểu nghệ thuật sơn mài...

Rời khởi làng nhưng hình ảnh chiếc quạt Chàng Sơn và người nghệ nhân già có dáng người mảnh khảnh, mái tóc bạc màu vì năm tháng bôn ba, in hình hài thôn quê, đất nước trên từng múi quạt vẫn thấp thoáng trong tôi. Không biết con người với 70 năm giữ nghề ấy có đủ sức để chờ đợi một hậu duệ để truyền nghề hay không?

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu